Đường dây siêu cao áp 500kV: Những chuyện giờ mới kể

Bắt đầu từ thập niên 1990, Chính phủ trực tiếp ban hành và trở thành trung tâm điều hành các chủ trương, chính sách lớn. Một trong những chủ trương lớn của thời kỳ đó là cho xây dựng đường dây tải điện siêu cao áp từ Nhà máy thuỷ điện Hoà Bình vào miền Nam, về sau gọi là Đường dây 500 kV.

Cuối năm 1991, miền Nam thiếu điện nghiêm trọng, trong khi Nhà máy thuỷ điện Hoà Bình, dự kiến vào năm 1995, sẽ sản xuất ra một lượng điện mà miền Bắc không có khả năng khai thác hết. Bộ Năng lượng tuy đưa ra hai phương án: bán sang Trung Quốc hoặc làm đường dây siêu cao áp để tải vô Nam. Nhưng Bộ trưởng Vũ Ngọc Hải vẫn nói trong Thường vụ Hội đồng Bộ trưởng: “Chúng tôi khảo sát, nếu bán sang Trung Quốc thì giá không đến nỗi nào nhưng do phải xây dựng một đường dây 220 kV để tải điện sang nên tính ra không còn dư bao nhiêu. Nếu chuyển điện vào miền Nam thì phải xây một đường dây siêu cao áp”.

Việt Nam khi ấy vừa bình thường hoá quan hệ với Trung Quốc, phương án bán điện cho họ cũng được một số người tán thành. Nhưng, theo Thủ tướng Võ Văn Kiệt: “Nam Bộ thiếu điện trầm trọng, các nhà đầu tư vào, câu đầu tiên là hỏi về điện. Vấn đề không chỉ là Trung Quốc, trong đầu tôi không có chuyện bán điện. Cũng may là khi bàn chuyện bán điện, có người phản ứng, miền Bắc thiếu gạo thì miền Nam đưa ra, bây giờ miền Nam thiếu điện, không lẽ miền Bắc đưa bán sang Trung Quốc”. Theo ông Vũ Ngọc Hải: “Ông Kiệt nói: Tôi còn làm Thủ tướng thì không bán điện đi đâu cả”. Ông Kiệt quyết định sớm làm đường dây siêu cao áp để đưa điện vào Nam. Chủ trương này được Tổng bí thư Đỗ Mười đồng tình.

Về mặt thủ tục, Thủ tướng Võ Văn Kiệt thừa nhận, quá trình hình thành chủ trương xây dựng đường dây 500 kV cũng có những thiếu sót. Thủ tướng Kiệt nói: “Tôi và ông Đỗ Mười trao đổi, hai bên thống nhất lắm. Hai, ba lần họp Bộ Chính trị, ông Mười nhắc: Anh Kiệt nên làm gấp đường dây 500. Nhưng, ông Mười không bao giờ cho bàn chính thức để đi đến một quyết nghị của Bộ Chính trị. Thế rồi, khi anh Nguyễn Văn Linh hỏi anh Đỗ Mười: Chủ trương đâu, thì té ra, trong Bộ Chính trị cũng có nhiều người không đồng tình, tỏ ra bực bội, nói ông Kiệt tự ý làm. Anh Mười im lặng. Ông Linh dựa vào đó nạt mình”.

Trước Tết năm 1992, nghĩa là ở thời điểm mà chủ trương đã hình thành, Giáo sư Nguyễn Khắc Nhẫn, một Việt kiều ở Nhật, nêu ra ba nghi vấn về đường dây 500 kV: Đường dây dài gần 1.500 km, tạo ra chênh lệch 1/4 bước sóng cho nên không thể tải điện đi miền Nam; Chưa có luận chứng mà đặt mục tiêu thi công trong hai năm là không tưởng; Giá thành sẽ rất cao, về mặt hiệu quả kinh tế là không có. Nhà báo Minh Thu kể: “Tôi đến gặp ông không lâu sau khi có thư của ông Nhẫn. Ông đưa lá thư cho tôi coi rồi nói: Chú đã cho thư ký photo gửi hết cho anh em. Tôi kêu lên: Trời ơi, sao chú làm thế? Ông cười: Không có ai chỉ ra những điểm yếu của mình đầy đủ như những người phản đối mình. Ở đây có những cảnh báo mà anh em chưa đặt ra hết”.

Ông Vũ Ngọc Hải thừa nhận: “Dù tin anh em, ông Kiệt vẫn bị ám ảnh bởi ý kiến của Giáo sư Nhẫn”. Ông Kiệt triệu tập khẩn cấp ông Vũ Ngọc Hải. Ông Hải nói: “Tôi thức trắng một đêm, xem tài liệu và tự mình tính toán. Việc xử lý chênh lệch 1/4 bước sóng bằng năm trạm bù đã được các chuyên gia nước ngoài thẩm định. Tôi quyết định ký và đảm bảo với Thủ tướng: Anh an tâm, tôi lo nhất là vấn đề an ninh chứ không phải là an toàn. Anh đảm bảo vấn đề an ninh, vấn đề kỹ thuật, tôi đảm bảo. Ông Kiệt quyết định và nói: Cứ làm, nếu thất bại thì không đợi cách chức, tôi sẽ chủ động từ chức”.

Nhưng lá thư của ông Nhẫn đã được những người phản đối công trình khai thác. Theo ông Vũ Ngọc Hải, ông Nguyễn Văn Linh vốn ủng hộ phương án bán điện, lấy tiền xây nhà máy nhiệt điện ở miền Nam, nhưng trước đó, chưa có đủ lập luận để phản bác. Sau khi có được lá thư của ông Nhẫn, từ miền Nam, bà Ngô Bá Thành, người được ông Nguyễn Văn Linh đưa lên chức Chủ nhiệm Uỷ ban Pháp luật Quốc hội, nói gần nói xa: Làm đường dây 500 là tự sát. Ông Đỗ Mười lúng túng.

Công trình được Bộ Chính trị thông qua vào tháng 1/1992. Đến ngày 25/2/1992, Chính phủ phê duyệt luận chứng kinh tế, kỹ thuật, với quyết định thời gian hoàn thành là 2 năm (trong khi các đơn vị nước ngoài tính toán thời gian thi công phải mất từ 8 đến 10 năm). Do thời gian khẩn cấp nên công trình được đặc cách cho phép vừa thực hiện xây dựng vừa song song thực hiện khảo sát, thiết kế, nhập vật tư, thiết bị. Cũng lần đầu tiên những thiết bị bù hiện đại, hệ thống các dụng cụ đo lường, bảo vệ, điều khiển và tự động kỹ thuật số của các nhà sản xuất nổi tiếng của Pháp, Nhật Bản, Thụy Điển, Đức, Anh, Italia, Phần Lan, Nga, Hàn Quốc…được đưa vào sử dụng trong hệ thống điện Việt Nam. Trụ điện đầu tiên của công trình đường dây 500 kV được khởi công vào ngày 1/3/1992. Ngày 24/3/1992, ngày Quốc hội khoá VIII khai mạc kỳ họp cuối cùng, Thủ tướng Kiệt bay lên Hoà Bình dự lễ khởi công công trình xây dựng cột điện ở nơi khởi nguồn của đường dây. Ông Nguyễn Hà Phan nói: “Bữa ông đi khởi công, tôi khuyên: Anh đợi tới chiều hẵng đi, dự khai mạc Quốc hội đã. Nhưng ông vẫn đi. Bà Nguyễn Thị Bình, Phó Chủ tịch nước nói: Ông này bất kể thiên địa. Một người khác trong Quốc hội lo: Gió bão nó đổ một cây cột thì ai chịu? Chủ tịch Quốc hội Lê Quang Đạo nói với tôi: Sáu Phan à, làm cái này coi bộ vướng”.

Ngày 13-4-1992, trong phiên họp toàn thể của Quốc hội, Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường, Giáo sư Vũ Đình Cự nói: “Uỷ ban chúng tôi đã phải làm một việc rất khó khăn vì phải phát biểu ý kiến về một công trình quan trọng, nhân dân cả nước quan tâm, đã có quyết định của Hội đồng Bộ trưởng và lại vừa được cử hành lễ khởi công rất trọng thể ở nhiều nơi trong nước”.

Ông Vũ Đình Cự nói tiếp: “Ngày 3-2-1992, Bộ Năng lượng mới trình hồ sơ luận chứng kinh tế kỹ thuật, ngày 17-2-1992, Hội đồng Thẩm tra Nhà nước chỉ làm việc trong một ngày, vậy mà đến ngày 19-2-1992 đã trình lên Hội đồng Bộ trưởng để phê duyệt. Từ đó dẫn đến một số khiếm khuyết. Nhiều vấn đề khoa học kỹ thuật và công nghệ chưa được nghiên cứu một cách thấu đáo… Chúng tôi xin nói thêm là khi đề nghị các chuyên gia đầu ngành về kỹ thuật điện cho biết là đã có những nước nào làm đường dây 500 kV dài trên 1000 cây số, thì các đồng chí không nắm vững; có một đồng chí cho biết đường dây của chúng ta là đường dây thứ ba. Trên thế giới mới có hai đường dây trên dài trên 1000 cây số và điện áp là siêu cao áp. Sau khi xây dựng chỉ có đường dây của Pakistan, dài 1200 cây số là dùng được, còn đường dây kia, dài 1700 cây số thì không dùng được”. Đặc biệt, theo ông Vũ Đình Cự: “Chưa có cơ sở về khả năng thi công hoàn thành đúng thời gian trong hai năm khi mà nguồn vốn chưa được xác định vững chắc, vật tư chủ yếu đều phải nhập ngoại”.

Một thành viên của Hội đồng Bộ trưởng, Chủ nhiệm Uỷ ban Khoa học Nhà nước Đặng Hữu, cũng dấy lên không ít hoài nghi khi ông nói trước Quốc hội: “Chủ trương đặt ra là cần thiết nhưng, có nhiều vấn đề khoa học chúng ta chưa kịp nghiên cứu. Anh em cũng hơi băn khoăn lo lắng… Cái phần 1/4 bước sóng, tôi đồng ý như anh Nguyễn Đình Tứ đã nói. Thực ra, về lý thuyết anh em hiểu hết và trên thực tế các nước đã làm rất nhiều ở Liên Xô và Mỹ. Nhưng vấn đề lại là chúng ta chưa có đội ngũ chuyên gia để làm những công việc đó. Lo là lo chỗ đấy!… Nếu như làm một cái trụ thôi thì có lớn hơn chúng ta cũng có thể làm được. Nhưng mà đây là làm một dãy dài hơn 3.000 cái trụ trong một thời gian ngắn. Mặt thứ hai, nếu dựa vào nước ngoài một nửa thì hôm trước anh Hiệu có đề xuất với anh Sáu (Võ Văn Kiệt), anh Sáu cũng đồng ý có thể mời chuyên gia Liên Xô cùng tham gia vào đây”.

Ngày 24-3-1992, khi Thủ tướng Võ Văn Kiệt lên xã Mạc Đức, Hoà Bình làm lễ khởi công trụ điện số Một, một công nhân đã bỏ vào túi ông Vũ Quốc Tuấn, thư ký ông Kiệt, một lá thư tố cáo vụ mất cắp năm tấn xi măng ở công trường. Ông Vũ Ngọc Hải nói: “Ông Tuấn báo với ông Kiệt, ông Kiệt đọc và nói với tôi: Phải xử lý ngay để làm gương”. Vừa bắt đầu ra quân đã phải trảm tướng: Giám đốc Công ty xây lắp Điện I bị cách chức.

Chủ tịch Hiệp hội Năng lượng Việt Nam ông Trần Viết Ngãi (nguyên Phó trưởng ban thường trực chỉ đạo công trình đường dây siêu cao áp 500kV) cho biết: “Chỉ nhìn vào hướng tuyến của đường dây đi, không đơn vị thi công nước ngoài nào dám cam kết làm. Các tuyến đường dây phần lớn đi trên đồi núi. Đặc biệt, tuyến đường từ Hải Vân lên hết đèo Lò Xo là tuyến kinh khủng nhất. Toàn bộ cả khu vực là rừng già với vô vàn cây cổ thụ đường kính hàng mét. Việc chặt cây, mở tuyến đã vô cùng vất vả nhưng việc đúc các móng cột đường dây trên đỉnh đồi, trên lưng chừng núi còn vất vả gấp nhiều lần.Mọi thứ đều thiếu thốn. Hàng vạn bộ đội của quân khu 4, quân khu 5, binh đoàn 12, 15, quân đoàn 1, 3 và hàng vạn đồng bào các dân tộc đã ngày đêm đổ mồ hôi, công sức, và cả máu để tham gia mở đường. Chỉ riêng việc lo cung ứng thực phẩm, lo cơm ăn, nước uống cho hàng vạn người tham gia “chiến trường” mở đường kéo dây đòi hỏi sự chuẩn bị rất kỹ lưỡng”.

Ghép 230 thuyền đánh cá để kéo dây vượt sông Gianh đưa điện từ miền Bắc vào miền Trung. Ảnh: Bích Liên.

Theo phương án của nhiều nhà khoa học, chuyên gia nước ngoài, để thi công các tuyến đường dây theo đúng tiến độ, sẽ phải dùng trực thăng vận chuyển thân cột, các thanh kết nối tới các vị trí móng rồi dùng bulông bắt từng thanh để tạo cột. Bài toán khó với các đơn vị thi công: Doanh nghiệp xây lắp trong nước lấy đâu ra trực thăng? Thuê của quân đội thì cũng khó, chưa kể tiền đâu mà trả? Để đảm bảo tiến độ cũng như tiết kiệm chi phí cho đất nước, một “chiến dịch sức người” được huy động để thực hiện vận chuyển thiết bị. Ban chỉ huy cũng họp bàn và quyết định sang Tổng công ty Than vay 7 triệu USD mua một máy kéo dây của Nhật Bản để kéo dây cáp qua các thung lũng và các khu rừng già. Máy được chuyển về công trình, 4 đơn vị xây lắp ngành điện được giao nhiệm vụ mới: “Copy” và chế ra các máy kéo dây theo đặc thù công việc của từng đơn vị. Nhờ vậy tốc độ thi công đường dây đã được đẩy nhanh rất nhiều.

“3.674 móng cột đã được thi công trong những thời gian kỷ lục. Để đảm bảo tiến độ, mỗi hố móng cột (nhỏ nhất khoảng 300m3 bê tông), móng cột néo bình quân 1.000 – 1.500 m3 bê tông phải được hoàn thành trong vòng 15 ngày. Riêng việc đục 700 móng cột vào các vách núi đá granit, đoạn từ Đại Lộc qua đèo Hải Vân, đòi hỏi hàng vạn sức người. Hàng trăm công nhân đục đá của các làng nghề ở miền Trung được huy động làm việc suốt ngày đêm. Quá trình thi công, nhiều nhà khoa học nước ngoài vào tham quan, khảo sát, nghiên cứu cũng thừa nhận “phục sát đất” cách làm sáng tạo, những cách thi công mới của những người thợ đường dây Việt Nam”, ông Ngãi nói.

Công trình thi công gần hoàn thiện, chỉ còn khoảng 9 tháng nữa là kết thúc công trình thì tại một cuộc họp giao ban, những người tham gia mới giật mình khi có báo cáo hợp đồng nhập khẩu dây cáp quang cho tuyến đường dây siêu cao áp trị giá 37 triệu USD sẽ bị giao chậm 6 tháng do hợp đồng ký chậm. Tại cuộc họp khẩn sau đó, Thủ tướng Võ Văn Kiệt yêu cầu cử gấp cán bộ sang Nhật làm việc với đối tác để đẩy nhanh việc nhập khẩu. Ngay buổi chiều cùng ngày, đoàn công tác 4 người (gồm ông Trần Viết Ngãi, Phó trưởng ban chỉ đạo công trình đường dây; ông Nguyễn Bá Hòa, Trưởng ban A cùng hai cán bộ khác của ngành điện) lên đường sang Tokyo.

Buổi làm việc với phía đối tác cũng nhanh chóng được tổ chức, đích thân Chủ tịch tập đoàn Nissho Iwai cùng các lãnh đạo cao nhất được mời đến làm việc với đoàn Việt Nam. Sau khi đọc bức thư tay do đích thân Thủ tướng Võ Văn Kiệt gửi, ông Chủ tịch Tập đoàn Nissho Iwai giao cho Tổng giám đốc Suzuki xem xét giải quyết đề xuất của Việt Nam. Tuy nhiên, vị tổng giám đốc, nổi tiếng là người rất nguyên tắc trả lời: Hợp đồng ký muộn thì nhận hàng muộn. Đề nghị mua cáp quang sớm sẽ trả lời sau.

Suốt 5 ngày sau đó ở Tokyo, dù nhiều lần qua làm việc, đoàn công tác vẫn chưa nhận được câu trả lời có thu xếp được sớm mua cáp. Đến ngày thứ 6, đoàn quyết định đến nhà máy Fuzikuza nằm dưới chân núi Phú Sĩ để tìm hiểu tình hình sản xuất cáp quang. Chuyến đi đã giúp thu được thông tin bất ngờ: Đơn hàng của phía Việt Nam bị chậm ít nhất 6 tháng. Rất may, vị Giám đốc nhà máy đã “bật mí” hiện nhà máy có 2 đơn hàng của Ấn Độ và Srilanka tương đồng về đặc tính kỹ thuật mà phía Việt Nam muốn mua. Đặc biệt, tổng độ dài cáp quang của hai hợp đồng này bằng đúng chiều dài cáp trong hợp đồng mà phía Việt Nam muốn mua. “Tất cả chúng tôi như sống lại trước thông tin này. Tôi đã đề nghị vị Giám đốc nhà máy viết một lá thư gửi cho Chủ tịch Tập đoàn đề xuất hướng giải quyết cho phía Việt Nam bằng cách ưu tiên cấp trước cáp theo thời hạn. Ngay trong ngày cả đoàn lập tức lên xe trở về Tokyo. Biết vị Chủ tịch tập đoàn là người sành uống rượu, tôi nghĩ ra cách, lấy lý do đoàn phải về nước, mời ông Chủ tịch cùng toàn bộ lãnh đạo tập đoàn đi ăn để chào tạm biệt. Bữa tiệc rượu, được tổ chức tại một nhà hàng của khách sạn 5 sao với dòng rượu Sake đặc biệt, kéo dài từ 16h đến gần 3h sáng hôm sau. Trong lúc trò chuyện, nhân khi ông Chủ tịch Tập đoàn hỏi: “Công việc của các ông đến đâu rồi?”, tôi trả lời: Vẫn chưa mua xong và đưa bức thư của vị giám đốc nhà máy sản xuất cáp quang và đề xuất được cấp trước đơn hàng để đảm bảo tiến độ công trình quan trọng của đất nước. Vị Chủ tịch nghe xong liền lấy bút phê đồng ý. Sau đó còn cởi chiếc áo vest đang mặc tặng tôi như món quà kỷ niệm. Tôi cũng cởi chiếc cà vạt đang đeo tặng lại như một lời cảm ơn sâu sắc về việc gánh nặng ngàn cân đã được gỡ bỏ. Ngay sau bữa tiệc, tôi lập tức điện về cho Thủ tướng báo tin mừng. Lúc đó ở Việt Nam mới là 7h sáng”, ông Ngãi nhớ lại.

Đường dây 500 kV thành công nhưng Ban Bí thư không đồng ý cho làm lễ khánh thành. Một người thư ký cũ của ông Kiệt lúc bấy giờ là Phó Chủ tịch trực Uỷ ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, ông Nguyễn Văn Huấn, nói: “Chẳng lẽ không làm gì? Tôi nói với anh Sáu Dân: Để tôi làm cho. Anh Sáu dặn, không được lấy một cắc từ ngân sách. Tôi huy động Hàng không, Sài Gòn Tourist tài trợ, tổ chức một bữa tiệc mời 600 quan khách. Trước Dinh Độc Lập treo băng-rôn: Thành phố Hồ Chí Minh mừng dòng điện 500 kV”.

Nhà báo Minh Thu kể: “Tôi vào Dinh, không có một quan chức nào của Ban Bí thư hay Bộ Chính trị vào dự. Thấy ông ngồi một mình, tôi đến, hỏi: Chú, cái nhà trẻ xây xong còn có lễ khánh thành, sao một công trình thế này mà không có ngày khánh thành hả chú. Ông kéo tôi ngồi xuống: Thôi, đóng điện an toàn là tao mãn nguyện lắm rồi”.

Suốt buổi lễ, ông Kiệt im lặng. Một diễn từ cực ngắn được ông Nguyễn Văn Huấn đọc: “Cái tên Phú Lâm giờ đây đã trở nên quen thuộc, thân thương. Bởi, Phú Lâm là điểm cuối cùng của đường dây huyết mạch nối liền với Hoà Bình. Sức mạnh sông Đà qua Phú Lâm toả khắp phương Nam, làm đẹp, làm giàu thêm, miền đất Cửu Long và Thành phố Hồ Chí Minh có thêm điều kiện mới để tiến lên trong vận hội mới. Cho phép tôi được thay mặt đồng bào Thành phố gửi tới hai vạn người anh hùng, vẫn đang đứng trên công trường, bất chấp tất cả”. Nhiều năm sau, khi kể lại câu chuyện này, ông Nguyễn Văn Huấn vẫn tỏ ra vô cùng tâm đắc với câu: Bất chấp tất cả!