“Biệt động Sài Gòn” : NSƯT Thanh Loan và nguyên mẫu ni cô Huyền Trang – nhà tu hành chiến sĩ

NSƯT Thanh Loan sinh ra và lớn lên ở phố Hàng Bông (Hà Nội), gia đình muốn bà trở thành bác sĩ nhưng nghe theo chúng bạn rủ nhau đi thi tuyển diễn viên vào Đoàn kịch nói của Tổng cục Chính trị. Sau khi trúng tuyển, bà chính thức bước vào cuộc đời trong quân đội, để rồi sau đó đi lưu diễn phục vụ các tuyến lửa với tư cách diễn viên kịch nói.

Sở hữu vẻ đẹp đặc trưng của thiếu nữ đất Hà Thành với khuôn mặt trái xoan xinh xắn, vóc dáng đẹp, bà bén duyên với nghệ thuật ở tuổi trăng tròn 15. Người đẹp phố cổ chính thức chạm ngõ điện ảnh với vai Riêng trong “Người về đồng cói”. Đó cũng là vai diễn đặt nền móng vững chắc cho con đường dấn thân vào môn nghệ thuật của bà.

Sau chiến dịch Mậu Thân 1968, nữ diễn viên Thanh Loan lúc đó 18 tuổi đi biểu diễn phục vụ chiến trường.

Năm 1969 bà ở đoàn kịch nói của Tổng cục Chính trị đi biểu diễn khắp nơi như tuyến lửa khu 4, đường Chín Nam Lào, tuyến lửa Quảng Bình, quân khu Xiêng Khoảng, Mường Xén…

Sau đó bà phục vụ những tuyến sau, nơi bộ đội bị thương được đưa về trạm xá. Dù là diễn viên nhưng bà vẫn hát, múa đủ cả, bà không thể nào quên những lần phải ăn gạo trộn xăng dầu. Đường hồi đó toàn ổ gà, ổ trâu, xăng dầu ngấm cả vào gạo trên xe. Đến chết cũng không quên mùi vị của những hạt gạo đó. Sau này Thanh Loan chuyển công tác sang làm biên tập và phát thanh viên của truyền hình Quân đội – Công an. Ở đây bà có nhiều điều kiện đi đóng phim hơn. Trước “Biệt động Sài Gòn”, bà đã từng đóng gần 20 bộ phim như: “Người về đồng cói”, “Bài ca ra trận”, “Bản đề án bỏ quên”, “Tuổi thơ dữ dội”, “Phương án ba bông hồng”…

“Biệt động Sài Gòn” được khởi quay từ năm 1983, bộ phim quay gần một năm nhưng đạo diễn vẫn chưa tìm được người hóa thân vào vai ni cô Huyền Trang. Cũng có nhiều người vào thử vai nhưng không đạt được như mong mong của đạo diễn. Trong một lần đi công tác Tp. HCM bà được họa sĩ Trịnh Thái – thiết kế mỹ thuật chính của bộ phim đã gợi ý tham gia. Bà đã gặp đạo diễn Long Vân. Nhìn vẻ đẹp dịu dàng, thần thái điềm tĩnh của Thanh Loan, đạo diễn này đã mời bà vào vai ni cô Huyền Trang. Sau khi đọc kịch bản thì bà thấy vai ni cô Huyền Trang rất hay và có đất diễn nên nhận lời tham gia và đã phải mất bốn năm ròng bay ra bay vào Hà Nội – Tp. HCM để thực hiện bộ phim.

Những năm 80 của thế kỷ trước, việc làm một bộ phim truyện nhựa cực kì vất vả. Nhất là khi đây lại là bộ phim truyện nhựa màu đầu tiên, nên việc in tráng rất khó khăn, mất nhiều thời gian mày mò, rút kinh nghiệm. Bà cho hay đoàn phim cứ quay được một số phân đoạn lại phải có người mang ra Hà Nội để in tráng, xem kết quả thế nào rồi mới lại tiếp tục quay những cảnh mới, còn nếu chưa được phải làm lại. Vì thế, thời gian sản xuất mỗi tập phim thường lên tới hơn 1 năm. Diễn viên có nhiều thời gian đi thâm nhập thực tế. Đạo diễn Long Vân đã nhờ Thiếu tướng Hải Phụng giới thiệu cho gặp những chiến sĩ biệt động năm xưa, những nhân vật anh hùng như Tư Chu, Bảy Bê, Tám Thậm… để thu thập thêm thông tin phục vụ cho bộ phim. Cũng nhờ đó mà NSƯT Thanh Loan cũng như các thành viên trong đoàn làm phim đã có cơ hội được gặp những chiến sĩ biệt động “thứ thiệt”, là nguyên mẫu của các chiến sĩ biệt động trong phim.

Qua lời kể của các nguyên mẫu, các nhà làm phim đã chọn lọc, sáng tạo, xây dựng hình tượng chiến sỹ biệt động sao cho có hồn nhất. Đoàn làm phim được gặp các chiến sĩ biệt động Sài Gòn như vợ chồng biệt động – du kích Củ Chi là ông Tư Chu (vào phim là Tư Chung) và bà Ngọc Mai (trong phim tên cũng như thế). NSƯT Thanh Loan đặc biệt ấn tượng và nhớ câu nói của anh hùng Bảy Thậm: “Nơi ẩn náu an toàn nhất là trái tim đàn bà”. Thời gian đó, những chiến sĩ biệt động có thể tồn tại được là nhờ sự giúp đỡ của nhân dân. Từ diễn viên Quang Thái (vai Tư Chung), Hà Xuyên (Ngọc Mai), Thúy An (vai cô bán cháo) đến NSƯT Thanh Loan (đóng ni cô Huyền Trang) đều cảm thấy rất xúc động, thấm thía khi gặp những người chiến sĩ này. Nhờ vậy mà việc hóa thân dễ dàng hơn. Bộ phim được thực hiện rất công phu, từng cảnh quay, từng cử chỉ, biểu hiện tâm lý, tình cảm của nhân vật đều được chăm chút kỹ lưỡng.

Phim quay trong Tp. HCM, mà NSƯT Thanh Loan lại sống và làm việc ngoài Hà Nội, nên trong 4 năm ấy, bà đi đi, về về giữa Tp. HCM – Hà Nội liên tục. Thời gian đó, chồng bà lại sang Đức làm luận án tiến sĩ khoa học, các con của bà đều nhờ mẹ chồng chăm sóc. Rất may là mẹ chồng bà rất tâm lý, lại thương con dâu nên bà có điều kiện tham gia đóng phim. Đến hè, mẹ chồng lại cho các cháu vào Đồn Đất – nơi đóng phim để thăm bà. Diễn viên ngoài Bắc, ngoài Thanh Loan, còn Quang Thái (vai Tư Chung – Hoàng Sơn), Bùi Cường (vai K9) cũng đều mang con cái theo để dễ bề cai quản. Mùa hè cả khu Đồn Đất (cơ sở 2 của Hãng phim truyện Việt Nam) như một nhà trẻ.

NSƯT Thanh Loan cho biết được tham gia vào bộ phim là may mắn của bà. Bởi cả ê-kíp đều là người có nghề và rất say nghề như diễn viên Quang Thái, Bùi Cường, Ngọc Dung, Thúy An, Thương Tín hay nghệ sĩ Quang Hải làm cố vấn nghệ thuật, quay phim kỳ cựu Quang Tuấn… Cộng thêm sự ủng hộ của Bộ Quốc phòng, của những người chiến sĩ biệt động, có ê-kíp làm phim hết mình vì điện ảnh và tất cả đã làm nên được bộ phim như thế.

“Biệt động Sài Gòn” xuất hiện lần đầu tiên năm 1986 và trở thành hiện tượng phòng vé lúc bấy giờ, có nơi khán giả chen nhau mua vé xem phim làm đổ tường. Đây được coi là bộ phim đầu tiên và duy nhất tái hiện chân thực những chiến công của lực lượng biệt động Sài Gòn trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ.

Trong phim, NSƯT Thanh Loan vào vai ni cô Huyền Trang là nữ chiến sĩ biệt động phải khoác áo tu hành để dễ bề hoạt động. Đồng thời đây cũng là người phụ nữ đa cảm yếu đuối khi ngỡ chồng – cũng là chiến sĩ biệt động thành (Hoàng Sơn) phụ bạc, theo cô gái đài các, sang trọng. Để vào vai ni cô Huyền Trang một cách trọn vẹn nhất, NSƯT Thanh Loan đã phải hy sinh mái tóc dài mà bà rất thích, vào chùa Dược Sư – một ngôi chùa toàn sư nữ ở Tp. HCM để ở một tuầnvới ni sư Diệu Thông (nguyên mẫu nhân vật ni cô Huyền Trang), học cách tụng kinh, gõ mõ, rồi học cách đi đứng, nói năng ra sao cho giống người tu hành. Ni sư Diệu Thông đã hướng dẫn bà cách đi đứng, nói năng, cách tụng kinh, gõ mõ của nhà sư. Ni sư Huỳnh Ngọc Liên đã hướng dẫn bà cách một nhà sư đi khất thực thì phải bước đi từng bước một khoan thai như thế nào, ánh mắt phải nhìn xuống, không được nhìn lên hay liếc ngang liếc dọc ra sao.

Để diễn cảnh quay phải ngồi ghế điện, bà cũng đã phải đi tìm hiểu xem người bị điện giật thì sẽ có những biểu hiện thế nào… đến cảnh phải đi khất thực giữa trời nắng chang chang, bỏng rát hết cả mặt, dưới là đường nhựa nóng hầm hập, bà phải đi chân trần, mà lại rất thong dong, chậm rãi. Rồi để quay được cảnh ni cô Huyền Trang khất thực dưới mưa, đoàn làm phim phải điều 4 xe cứu hỏa, thay nhau làm mưa xối xả. Theo đúng kịch bản, ni cô bị ngất, mà bà khi diễn đến cảnh ấy cũng bị… ngất thật, vậy nên lúc quay ấy đạo diễn ưng luôn. Thậm chí, để nhập vai vào nhân vật, bà phải tự tạo lý lịch cho nhân vật để làm nên cốt cách nhân vật một cách chuyên nghiệp nhất.

Cảnh ni cô bị ngồi ghế điện do Thanh Loan đảm nhiệm đã trở thành một trong những cảnh quay không thể nào quên của màn ảnh Việt, và vai ni cô Huyền Trang đã là vai diễn để đời của bà. Có thể nói, suốt cả 4 tập của bộ phim, NSƯT Thanh Loan vào vai “ngọt” đến độ, sau này, nhiều người khi gặp bà ngoài đời, không nhớ được tên bà, họ chỉ biết gọi bà là “ni cô Huyền Trang”.

Sau vai diễn để đời này bà đã chuyển sang làm đạo diễn phim tài liệu, trở thành một đại tá, giữ vai trò phó Giám đốc Điện ảnh Công an rồi phó Chủ tịch Hội Điện ảnh Hà Nội. Bà đi sâu về mảng phim tài liệu, nhất là phim về cuộc đời, sự nghiệp của chiến sĩ Công an Nhân dân trong hai cuộc chiến tranh chống Pháp, chống Mỹ và trong cuộc sống hôm nay. Một số những thước phim về công an bà làm đạo diễn như “Cảnh sát mặc thường phục” (nói về cảnh sát Interpol Việt Nam), “Nơi dòng sông chảy ngược” (nói về công an Lạng Sơn), “Dấu vết cháy” (được dùng làm tài liệu giảng dạy trong các trường cảnh sát, an ninh)…

Nhiều năm trôi qua nhưng nhắc đến phim “Biệt động Sài Gòn”, khán giả yêu màn ảnh Việt hẳn không quên nhân vật ni cô Huyền Trang với những thước phim làm lay động hàng triệu trái tim. Nhưng ít ai biết được nhân vật trong phim là nguyên mẫu ni cô Huyền Trang có thật ngoài đời. Nhà tu hành cả một đời cống hiến cho cách mạng giờ sống lặng lẽ tại một ngôi chùa miền Tây của Tổ quốc. Trong phim đã hư cấu nhân vật ni cô Huyền Trang sau này mới đi tu, thực ra ngoài đời ni sư Diệu Thông đã đi tu từ nhỏ, vì yêu nước, thương dân mà quyết định tham gia cách mạng.

Ni sư Diệu Thông tên thật là Phạm Thị Bạch Liên, quê ở Sa Đéc, Đồng Tháp. Từ nhỏ, Bạch Liên sống với mẹ cùng 9 anh chị em trong ngôi chùa của gia đình. Cha là công nhân thợ nước ở Sài Gòn, uất hận trước cảnh áp bức bất công nên đã lên núi theo nghiệp tu hành. Sau đó mẹ bà và lần lượt tất cả những đứa con đều xuống tóc đi tu. 7 tuổi, ni cô Bạch Liên bắt đầu làm quen với những bài kinh cầu nguyện, chính thức bước vào con đường “sa di”, rồi thọ giới Tì Kheo mang pháp danh Diệu Thông sau vài năm. Vì muốn con mình theo con đường đạo trọn vẹn, cha đã gửi Diệu Thông theo học ni trường Diệu Đức ở Huế.

Năm ấy, miền Trung bị ảnh hưởng bởi thiên tai, lụt lội hoành hành. Trong cảnh đói kém, Diệu Thông tham gia cùng các tăng ni theo xe của chùa đi phát gạo, phát thuốc cho dân nghèo. Lợi dụng hoạt động hợp pháp, đoàn xe của chùa chạy thẳng lên chiến khu tiếp tế gạo cho bộ đội. Hôm ấy, cả một quãng đường xa, lầy lội, đoàn vừa chạy vừa cảnh giác giặc phát hiện, lái xe lại không quen đường nên đến đoạn cua không kịp trở tay, xe bị lật. Mọi người hoảng loạn, nhưng không ai bị sao, riêng ni cô Diệu Thông kẹt trong ca- bin và bị thương ở đầu, máu thấm đẫm chiếc khăn trùm. Tai nạn dù được che đậy kín đáo nhưng vẫn bị nhà cầm quyền tình nghi. Chúng có cớ buộc trường phải đuổi học một số tăng ni trong đó có Diệu Thông.

Trở về Sài Gòn trong khi vết thương trên đầu còn chưa lành hẳn, ni cô Diệu Thông mang theo nỗi buồn sâu thẳm. 3 năm tu nghiệp, văn hóa mới học đệ nhất đành gác lại, buồn hơn nữa là đã không làm tròn ý nguyện của cha. Sài Gòn và cả miền Nam thời gian này đang có những chiến dịch tố Cộng – diệt Cộng đẫm máu. Trên đường từ Sa Đéc về nhà ở xã Tân Dương, ni cô Diệu Thông bàng hoàng khi tận mắt nhìn thấy những cái máy chém của luật 10/59 lê khắp nơi. Trong những bài cầu kinh đêm đêm thường bị cắt ngang, phân tâm bởi những gì ni cô tận mắt nhìn thấy. Cuối cùng ni cô hiểu ra rằng, cái cốt của đạo là cứu khổ cứu nạn, nếu ngồi tu trong nhà mà ngoài kia dân mình gặp khổ hạnh bởi chiến tranh thì coi như việc tu chưa thành, là chưa đúng với những điều Phật dạy. Diệu Thông đã quyết chí lên Sài Gòn, sống cuộc đời tu hành tự lập và nuôi dưỡng một ý định táo bạo được cho là bứt phá trong giới tu hành.

Ni cô Huyền Trang xưa và nay
Ni cô Huyền Trang xưa và nay

Ni cô Diệu Thông cùng người cháu là Thích Viên Hảo xây dựng ngôi chùa đặt tên là Bổn Nguyện tọa lạc tại số 82B Trần Quốc Toản (nay là đường 3/2, P.12, Q.11). Trên góc đường này trước kia chỉ toàn nước và sình lầy với những ngôi nhà mái lá lụp xụp mà người ta gọi là khu ổ chuột của những người cùng khổ. Vùng sình ẩm ướt này đã mọc lên một ngôi chùa mái lá ngày ngày tỏa khói hương nghi ngút ấm áp. Từ đây, chùa Bổn Nguyện còn là nơi may cờ, in ấn tài liệu, truyền đơn cho cách mạng. Chùa Bổn Nguyện bắt đầu có nhiều phật tử lui tới thường xuyên hơn. Đó là một mạng lưới cách mạng đang phát triển lớn dần lên trong vỏ bọc nhà chùa dưới sự chở che và trực tiếp chiến đấu của ni cô Diệu Thông.

Kiếp tu hành của ni cô Diệu Thông từ đây chính thức bước sang một chương mới, để rồi bí danh Huyền Trang trở thành một mắt xích không thể thiếu trong trang phục nhà tu chiến sĩ. Đêm đêm trong mái chùa văng vẳng tiếng cầu kinh niệm Phật, dưới bóng đèn vàng vọt của căn buồng nuôi giấu cách mạng, ni cô Huyền Trang cùng các chị cần mẫn đánh máy, in truyền đơn bằng bột và bí mật đem rải ngoài phố. Ni cô hăng say làm việc, tích cực đưa thư từ giao liên trong nội thành. Được một thời gian, cảnh sát bắt đầu theo dõi chùa Bổn Nguyện, tìm đủ mọi cách phá hoại chùa và để dằn mặt những nhà tu đang cố tình hướng ngoại, tiếp tế, che chở Việt Cộng.

Trong mỗi trận đánh, ni cô Huyền Trang luôn là người dẫn đường, những trận xuất phát tại chùa mỗi ngày một dày đặc hơn, mạnh mẽ hơn. Chùa Bổn Nguyện cũng là nơi đầu tiên chứng kiến cảnh những chiến sĩ ra đi không bao giờ trở về. Đó là Tám A và Tám Ngoan, hai chiến sĩ biệt động gan dạ, trung kiên từng tham gia nhiều trận đánh “xuất quỷ nhập thần” ở Sài Gòn. Trong trận đánh xe bus từ cư xá đường Nguyễn Văn Thoại đến phi trường, khi xe Honda hai ni cô vừa tới nơi thì xe chở sĩ quan Mỹ cũng vừa lăn bánh. Không thể để mất cơ hội, Tám A lái xe đuổi theo và cập vào hông xe bus, rút chốt trái nổ trực tiếp và hai ni cô đã anh dũng hy sinh.

Nghe tiếng nổ giống với những trận đánh thường diễn ra trong nội thành, ni cô Huyền Trang lao ra đường xem tình hình. Tới nơi thấy người đứng xúm lại đông nghẹt, rẽ dòng người vào hiện trường chợt mắt ni cô sụp xuống khi nhận ra hình dạng không lành lặn của hai đồng chí mình. Không thể lại gần thi thể kia bởi cảnh sát đang phong tỏa hiện trường, ni cô Huyền Trang lấy lại bình tĩnh để không bật khóc rồi chạy một mạch về chùa thông báo cho mọi người biết hung tin. Tám A hy sinh ngẫu nhiên giống với chồng của cô trông một lần nổ bộc phá tại Biên Hòa. Vậy là hai vợ chồng cùng là biệt động, cùng hy sinh trong hoàn cảnh vô cùng anh dũng. Họ để lại đứa con gái đang gửi ở chùa. Ngày mẹ đi đánh trái nổ, nó đã khóc thét níu áo không cho đi. Vậy mà người mẹ cắn răng, dứt vạt áo ra đi và không bao giờ trở về với nó nữa.

Ni cô Huyền Trang thường tâm sự chân tình với những người bạn vong niên của mình rằng cuộc đời bà là một nhà sư, nhưng từ khi dấn thân theo con đường cách mạng thì thấy đời sáng tỏ ra nhiều thứ. Bà có tình yêu thật sự với những người cách mạng, tình yêu đã phát triển lớn dần lên thành tình yêu đất nước sâu nặng. Điều ấy đã thôi thúc bà vượt ra khỏi phạm vi ràng buộc của một người tu hành. Chính thuyết “vô ngã” đã chinh phục lòng tự nguyện của ni cô Diệu Thông từ trong vòng tay của Phật. Vậy là năm 1982, bà để tóc và hoàn tục.

Cuộc đời của ni cô Huyền Trang cùng với những trận đánh đã đi vào lịch sử. Chiếc áo nhà tu cùng chiếc khăn trùm màu vàng úa của bà được đặt trang trọng trong Bảo tàng Phụ nữ Nam bộ như một chứng nhân có thật của lịch sử. Chiếc Honda mà ngày xưa bà từng rong ruổi khắp Sài Gòn chở đội quân biệt động đi đánh Tòa đại sứ Hoa Kỳ, Dinh Độc Lập, Đài Phát thanh do Bí thư Thành ủy lúc bấy giờ là đồng chí Nguyễn Văn Linh tặng, nay kỉ vật ấy bà muốn gửi lại Bảo tàng làm tư liệu.

Cuộc đời bà còn được xây dựng thành nhân vật chính trong bộ phim “Biệt động Sài Gòn”. Huyền Trang – nhân vật tạo dấu ấn sâu đậm nhất trong lòng khán giả xuyên suốt câu chuyện. Bộ phim có sức lan tỏa rộng lớn và cho đến nay, dù chiến tranh đã lùi xa nhưng mỗi khi nhắc đến điện ảnh thủa ấy, người ta vẫn nhớ một “Biệt động Sài Gòn” hào khí và oanh liệt. Trong bộ phim, ni cô Huyền Trang đã hy sinh, nhưng nguyên mẫu ngoài đời vẫn đang sống. Chiến tranh kết thúc, ni cô từng di chuyển nhiều nơi, trải qua nhiều công việc nhưng cuối đời lại nương mình tại một ngôi chùa ở Long Xuyên (An Giang).

Sưu tầm

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.