Nghệ thuật chiến tranh nhân dân trong chiến dịch ĐIỆN BIÊN PHỦ 1954

Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954 là đỉnh cao của nghệ thuật chiến tranh nhân dân trong 9 năm “Kháng chiến trường kỳ”.

Bộ Tổng Tham mưu Quân đội Nhân dân Việt Nam làm việc với Tổng cục Cung cấp tính toán bước đầu, phải huy động cho chiến dịch 4.200 tấn gạo (chưa kể gạo cho dân công), 100 tấn rau, 100 tấn thịt, 80 tấn muối, 12 tấn đường. Tất cả đều phải vận chuyển qua chặng đường dài 500 km phần lớn là đèo dốc hiểm trở, máy bay Pháp thường xuyên đánh phá. Theo kinh nghiệm vận tải đã tổng kết ở chiến dịch Tây Bắc (năm 1952), để có 1 kg gạo đến đích phải có 24 kg ăn dọc đường. Vậy nếu cũng vận chuyển hoàn toàn bằng dân công gánh bộ, muốn có số gạo trên phải huy động từ hậu phương hơn 60 vạn tấn, và phải huy động gần 2 triệu dân công để gánh. Cả hai con số này đều cao gấp nhiều lần so với kế hoạch dự kiến ban đầu.

Đoàn dân công xe đạp thồ vận chuyển hàng phục vụ bộ đội chiến đấu tại chiến trường Điện Biên Phủ, năm 1954.
Đoàn dân công xe đạp thồ vận chuyển hàng phục vụ bộ đội chiến đấu tại chiến trường Điện Biên Phủ, năm 1954.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Bộ Chính trị và Tổng Quân ủy đã đề ra những giải pháp quyết đoán. Một mặt động viên nhân dân Tây Bắc ra sức tiết kiệm để đóng góp tại chỗ, mặt khác đẩy mạnh làm đường, sửa đường, huy động tối đa các phương tiện vận chuyển thô sơ như ngựa thồ, xe đạp thồ, thuyền mảng… nhằm giảm đến mức tối đa lượng lương thực thực phẩm tiêu thụ dọc đường do phải đưa từ xa tới.

Số dân công chỉ tính từ trung tuyến trở lên, đã cần tới 14.500 người. Về chuẩn bị đường sá, các con đường thuộc tuyến chiến dịch đều phải bảo đảm vận chuyển bằng ô tô. Trước đây, để chuẩn bị đánh Nà Sản, con đường 13 từ Yên Bái lên Tạ Khoa đã sửa chữa xong, nhưng lúc này cần tiếp tục tu bổ thêm. Đường từ Mộc Châu đi Lai Châu rất xấu, phải sửa chữa nhiều. Phân công cho Bộ Giao thông công chính phụ trách đường 13 lên tới Cò Nòi, và đường 41 từ Mộc Châu lên Sơn La, bộ đội phụ trách quãng đường 41 còn lại từ Sơn La đi Tuần Giáo, và từ Tuần Giáo đi Điện Biên Phủ (sau này gọi là đường 42). Thời gian tiến hành từ tháng 12 năm 1953.

Từng đoàn dân công ngụy trang gánh gạo ra tuyền tuyến, năm 1954.
Từng đoàn dân công ngụy trang gánh gạo ra tuyền tuyến, năm 1954.

Để một lực lượng mạnh cho chiến dịch Điện Biên Phủ, chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã huy động tối đa về sức người và sức của: hàng vạn dân công và bộ đội làm đường dã chiến trong khoảng thời gian cực ngắn, dưới các điều kiện rất khó khăn trên miền núi, lại luôn bị máy bay Pháp oanh tạc. Các dân công từ vùng do Việt Minh kiểm soát đi tiếp tế bằng gánh gồng, xe đạp thồ kết hợp cùng cơ giới đảm bảo hậu cần cho chiến dịch. Đội quân gồm thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến, được huy động tới hàng chục vạn người (gấp nhiều lần quân đội) và được tổ chức biên chế như quân đội.

Một trong những lực lượng quan trọng phục vụ hậu cầu cho chiến dịch là đội xe đạp thồ trên 2 vạn người, với năng suất tải mỗi xe chở được 200–300 kg,kỷ lục lên đến 352 kg. Xe đạp được cải tiến có thể thồ cao gấp hơn 10 lần dân công gánh bộ, đồng thời giảm được mức tiêu hao gạo ăn dọc đường cho người chuyên chở. Ngoài ra xe thồ còn có thể hoạt động trên những tuyến đường mà xe Ô tô không thể đi được. Chính phương tiện vận chuyển này đã gây nên bất ngờ lớn ngoài tầm dự tính của các chỉ huy Pháp, làm đảo lộn những tính toán trước đây khi cho rằng Việt Minh không thể bảo đảm hậu cần cho một chiến dịch lớn, dài ngày trong các điều kiện phức tạp như vậy được.

Dân công miền núi làm đường phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ, năm 1954.
Dân công miền núi làm đường phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ, năm 1954.

Trước hết phải mở các con đường cơ giới lên Điện Biên để vận chuyển pháo. Theo tài liệu “Trận tuyến hậu cần Điện Biên Phủ” của Nxb Quân đội nhân dân, để chuẩn bị tấn công Điện Biên, ta đã sửa chữa và mở hàng trăm km đường.

Cụ thể, sửa chữa đường 41 từ Hòa Bình lên Suối Rút và từ Suối Rút lên Sơn La với tổng chiều dài trên 200 km. Củng cố 300 km đường từ Yên Bái đến Sơn La (theo trục đường 13). Làm mới 89 km đường từ Tuần Giáo vào Điện Biên Phủ. Ngoài ra còn mở các đường phụ từ Thanh Hóa lên Điện Biên và các đường kéo pháo, đường cơ giới vào sở chỉ huy, vào kho và trận địa…

Việc mở đường vượt qua địa hình đồi núi trong điều kiện quân và dân ta chỉ dựa vào sức người với các phương tiện thô sơ, khó khăn nhất là khi bạt núi làm đường ta lại có ít thuốc nổ. Bộ đội và dân công đã áp dụng những kinh nghiệm cổ truyền để phá đá theo công thức: “Lấy củi mà đốt liền hơi, tức thì đá nóng như sôi, lấy nước mà giội đá thời khắc tan”.

Tổng cộng trong thời gian tiến hành chiến dịch, Việt Minh đã huy động được khoảng 252.000 dân công từ các dân tộc Tây Bắc, Việt Bắc, Liên khu 3, Liên khu 4, . . . với 10.301.570 ngày công mở hàng ngàn cây số đường bộ, vận chuyển 25.000 tấn lương thực, hàng trăm tấn vũ khí đạn dược, thuốc men bằng 628 chiếc xe tải, 11.800 ghe thuyền, 20.911 xe đạp thồ, 500 ngựa thồ, hàng ngàn xe trâu bò kéo. Tổng khối lượng cung cấp cho chiến dịch là 30.759 tấn, trong đó tiêu thụ hết 19.989 tấn.

Quân ta kéo pháo lên trận địa. 
Quân ta kéo pháo lên trận địa. 

Chính sách lược này đã gây nên bất ngờ lớn với quân Pháp, làm đảo lộn những tính toán trước đây. Các nhà quân sự Pháp, Mỹ tính toán giản đơn rằng, các đoàn dân công và đ­ường sá thô sơ của Việt Nam không thể đọ nổi cầu hàng không hiện đại và không thể ngờ rằng, bằng đôi chân đi bộ, đôi vai và chiếc xe đạp thồ, nhân dân Việt Nam đã chuyên trở hàng chục ngàn tấn lương thực và phương tiện cần thiết đáp ứng nhu cầu của chiến dịch.

Ngoài ra, Pháp cũng đã đánh giá sai khả năng pháo binh của QĐNDVN khi cho rằng đối phương vốn không có xe cơ giới nên không thể mang pháo lớn (lựu pháo 105 mm và pháo phòng không 37 mm) vào Điện Biên Phủ mà chỉ có thể mang loại pháo nhẹ là sơn pháo75 mm trợ chiến mà thôi. Đối lại, những người lính QĐNDVN đã khôn khéo tháo rời các khẩu pháo rồi dùng sức người để kéo, sau khi đến đích thì ráp lại. Bằng cách đó họ đã đưa được lựu pháo 105 mm lên bố trí trong các hầm pháo có nắp khoét sâu vào các sườn núi, xây dựng thành các trận địa pháo rất nguy hiểm và lợi hại, từ trên cao có khả năng khống chế rất tốt lòng chảo Điện Biên Phủ mà lại rất an toàn trước pháo binh và máy bay đối phương. Với thế trận hỏa lực này, các khẩu pháo của QĐNDVN chỉ cách mục tiêu 5–7 km, chỉ bằng một nửa tầm bắn tối đa để bắn chính xác hơn, ít tốn đạn và sức công phá cao hơn, thực hiện được nguyên tắc “phân tán hỏa khí, tập trung hỏa lực”, từ nhiều hướng bắn vào một trung tâm, ngược lại pháo binh Pháp lại bố trí ở trung tâm, phơi mình trên trận địa.

Dân công Liên khu 3 san đá rải đường phục vụ xe vận chuyển hàng vào Điện Biên Phủ.
Dân công Liên khu 3 san đá rải đường phục vụ xe vận chuyển hàng vào Điện Biên Phủ.

Sau thất bại Điện Biên Phủ, nhiều tướng lĩnh và học giả Pháp cho rằng yếu tố Việt Minh có trọng pháo là một trong những bất ngờ lớn nhất của quân Pháp ở Điện Biên. Thực ra nói cho chính xác thì người Pháp không hề bất ngờ về việc Việt Minh có pháo. Cái mà họ bất ngờ là Việt Minh có thể đưa được pháo lên những dãy núi cao để bắn họ.

Thật vậy, theo cuốn “Trận tuyến hậu cần Điện Biên Phủ” thì xung quanh thung lũng Mường Thanh có hai dãy núi. Dãy Pú Hồng Mèo (mặt trời mọc) ở phía đông và dãy Pú Tà Cọ (mặt trời lặn) ở phía tây. Hai dãy núi có những ngọn cao trên dưới 700m bọc lấy cánh đồng Mường Thanh. Để đảm bảo pháo bắn chính xác, ta chủ trương mở đường kéo pháo trên hai dãy núi ấy.

Cuốn “Điện Biên Phủ truyện kể với bạn bè” nói chi tiết về việc này: “Pháo được xe kéo dừng lại ở km 69, đường 41. Từ đó, phải mở một con đường vượt qua một hệ thống núi dài 15km, từ phía Đông Bắc sang phía Tây Bắc Điện Biên Phủ. Chỗ cao nhất phải vượt qua là đỉnh Pú Pha Sỏng 1.150m. Chỗ thấp nhất là vực Nậm Kho Hu, ở độ cao 600m so với mặt biển. Đường kéo pháo lại trong tầm pháo địch. Đoàn cán bộ đi tỉnh sát địa hình, lập phương án làm đường kéo pháo và chọn trận địa pháo phải qua những nơi chưa có dấu chân người. Trong tay không có một tấm bản đồ chi tiết, không một khí tài đo ngắm hiện đại.

Sau khi mạng đường đã được xác định trên sơ đồ, yêu cầu đặt ra với hai trung đoàn của đại đoàn 308 là trong một ngày đêm phải mở xong con đường trên 10km để kéo pháo vào trận địa. Cán bộ công binh tính toán và lo ngại. Trong 24 giờ, phải hàng vạn dân công mới làm kịp. Nếu chỉ có hai trung đoàn, ít nhất phải tăng thời gian lên gấp 5 lần.

Vậy mà quân ta đã đạt được một kết quả không hề lường trước: Chỉ sau 20 giờ lao động khẩn trương và chỉ với cuốc xẻng, dao, choòng và mìn phá đá, 5.000 chiến sĩ đại đoàn 308 đã hoàn thành tuyến đường vượt kế hoạch của Bộ tham mưu mặt trận. Thêm một thành tích nổi bật, tô thắm truyền thống mở đường thắng lợi của quân đội ta. Đó chính là hình ảnh ra quân của một dân tộc mang theo khẩu hiệu “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng” mà quân xâm lược Pháp đã không sao có được.

Lá cờ quyết chiến quyết thắng của Hồ Chủ tịch được tung bay trên nóc hầm Sở chỉ huy của Tướng Đờ Cátơri ngày 7/5/1954.
Lá cờ quyết chiến quyết thắng của Hồ Chủ tịch được tung bay trên nóc hầm Sở chỉ huy của Tướng Đờ Cátơri ngày 7/5/1954.

Nguyên nhân chính làm nên chiến thắng của Việt Minh tại trận đánh này là đã huy động được rất lớn sức nhân dân để đảm bảo hậu cần cho chiến dịch. Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận định:­ “Về vũ khí địch hơn ta, nhưng về tinh thần và chính trị thì ta mạnh hơn địch gấp trăm gấp ngàn lần”.

Hội Thanh Niên Yêu Nước

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.