Kỷ niệm 65 năm ngày ký Hiệp định Genève về Việt Nam

Kỷ niệm 65 năm ngày ký Hiệp định Genève về Việt Nam (20/7/1954 – 20/7/2019)

Chiến tranh Đông Dương nổ ra từ giữa những năm 1940, ngày càng phát triển có nguy cơ dẫn đến chiến tranh thế giới mới. Dưới sức ép của các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình, ngoại trưởng 4 nước lớn là Liên Xô, Mỹ, Anh, Pháp họp ở Béc – Lin (Đức) 25/1/1954 đã quyết định triệu tập Hội nghị Genène gồm những nước hữu quan nhằm tìm ra giải pháp chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Đông Dương.

Cách đây 65 năm, chúng ta bước vào Hội nghị với thế mạnh nhờ có thắng lợi lịch sử Điện Biên Phủ ngày 7/5/1954. Tuy chưa nhận được giấy mời dự hội nghị. Đoàn đại biểu của ta do Phó Thủ tướng Kiêm quyền Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Văn Đồng làm Trưởng đoàn đã rời căn cứ địa Việt Bắc vào cuối tháng 3/1954. Lúc đó chiến dịch Điện Biên Phủ đã chuyển sang giai đoạn 2. Chiến sự diễn ra hết sức ác liệt. Đoàn ta chờ ở Bắc kinh khoảng nửa tháng. Giữa tháng 4, đoàn rời Bắc Kinh đi Mạc – Tư – Khoa.

Mãi đến 2/5/1954 ta mới nhận được giấy mời dự hội nghị, dự kiến họp vào ngày 8/5/1954. Sở dĩ có sự trục trặc này là do phía Pháp phi lý không chịu thừa nhận Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một thành viên của hội nghị. Họ còn vu cáo ta “bất nhân” không cho họ đến Điện Biên Phủ tải thương binh Pháp về Hà Nội. Sự thật là ta đã nhiều lần cho Pháp đến Điện Biên Phủ tải thương binh, nhưng họ đã lợi dụng lòng tốt của ta để tiếp viện cho quân đội họ đang bị vây hãm ở Điện Biên Phủ. Trưởng đoàn Liên Xô là Mô – Lô – Tốp nói với Bi – đôn (Bidault) Bộ trưởng Ngoại giao Kiêm trưởng đoàn Pháp rằng, muốn giải quyết vấn đề thương binh không có cách nào khác là Pháp hãy nói chuyện trực tiếp với đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đuối lý, Pháp mới chấp nhận mời đoàn ta đến dự hội nghị.

Kỷ niệm 65 năm ngày ký Hiệp định Genève về Việt Nam
Kỷ niệm 65 năm ngày ký Hiệp định Genève về Việt Nam

Ngày 3/5/1954, đoàn ta rời Mạc – Tư – Khoa và ngày 4/5/1954 đến Genève, trước sự ngạc nhiên của chính giới phương Tây và các cơ quan thông tin đại chúng. Vì thấy đoàn ta từ căn cứ địa Việt Bắc đến Genève xa như thế mà đi nhanh có mặt kịp thời dự Hội nghị.

Trên đường đi đến Genève và hơn một tháng chờ đợi ở Bắc Kinh và Mạc – Tư – Khoa, ngóng trông thắng lợi ở Điện Biên Phủ. Ngày mong đợi đó đã đến kịp thời. Thật là một sự phối hợp nhịp nhàng và tuyệt vời giữa mặt trận quân sự và mặt trận ngoại giao. Vào khoảng 3 giờ chiều ngày 7/5/1954, đoàn nhận được tin ta thắng lợi tại Điện Biên Phủ, bắt sống Tướng Đờ Cát – xtri Tư lệnh mặt trận cùng Bộ tham mưu và binh lính địch. Chiều cùng ngày, Trưởng đoàn Liên Xô Mô – lô – Tốp và Trưởng đoàn Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Chu Ân Lai gặp đoàn ta chúc mừng thắng lợi đó.

Ngày 8/5/1954, Hội nghị Genève về Đông Dương khai mạc tại “Lâu đài các dân tộc”. Thành phần hội nghị gồm có: Liên Xô, Trung Quốc, Pháp, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Anh, Mỹ, ngụy quyền Bảo Đại, chính quyền Lào thân phương Tây, chính quyền Cam-pu-chia thân phương Tây. Đoàn đại biểu Pháp mặc quần áo đen, thắt cà-vạt đen, nét mặt rầu rĩ. Họ buồn tủi trước sự thất bại nặng nề của họ ở Điện Biên Phủ.

Phát biểu tại phiên khai mạc, đồng chí Phạm Văn Đồng nhìn thẳng vào trưởng đoàn Pháp và dõng dạt nói, đại ý: Chúng tôi là “ma” đây! “Ma” hiện hình trước mặt các ông bằng xương bằng thịt, “ma” cho phép các ông đến Điện Biên Phủ để tải thương binh của các ông. Bi – đôn tái mặt cúi đầu xuống để tránh cái nhìn sắc như dao của đoàn ta. Trong giờ giải lao, các đồng chí Liên Xô, Trung Quốc cùng đến bắt tay đồng chí Phạm Văn Đồng và các đồng chí khác trong đoàn ta.

💥Tại sao đồng chí Phạm Văn Đồng lại tự xưng là “ma”? Xin trình bày tóm tắt như sau:

Khoảng năm 1951 – 1952, sau khi đặt quan hệ ngoại giao với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Liên Xô đã đề nghị Liên Hợp Quốc kết nạp Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là thành viên của Liên Hợp Quốc, nhưng Pháp đã phủ quyết và nói rằng: Việt Minh không phải là một chính phủ, một nhà nước, mà chỉ là “ma” thế mà lại hiện ra trước mặt họ với tư thế của người có chính nghĩa và đã chiến thắng.

Trong phiên họp khai mạc Hội nghị Genève 1954 về Đông Dương, trưởng đoàn đại biểu Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã đưa ra lập trường 8 điểm để giải quyết hòa bình vấn đề Việt Nam. Nội dung chủ yếu và tinh thần cơ bản của lập trường 8 điểm là:

– Pháp và các nước công nhận các quyền dân tộc cơ bản của Việt Nam là độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, chủ quyền đầy đủ.
– Những vấn đề của Việt Nam do người Việt Nam tự giải quyết, các nước ngoài không được can thiệp.
– Pháp phải rút hết binh lính, nhân viên quân sự, vũ khí đạn dược của họ ra khỏi Việt Nam.
– Hai bên thả hết tù binh của nhau.
– Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Pháp lập quan hệ ngoại giao.
– Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sẽ xem xét việc gia nhập khối Liên hiệp Pháp.

Các đoàn đại biểu bạn hoan nghênh lập trường 8 điểm của Việt Nam. Các đoàn phương Tây không giấu nổi sự ngạc nhiên của họ về lập trường đúng đắn, thiện chí nổi bật và sách lược khôn khéo của ta. Nhiều cơ quan thông tin đại chúng của Pháp và phương Tây đưa tin dưới tiêu đề nổi bật: “Việt Minh bỏ bom” ở hội nghị. Việt Minh tiến hành chiến dịch Điện Biên Phủ trên mặt trận ngoại giao.

Thật vậy, lập trường 8 điểm của ta đã tác động mạnh mẽ đến chính trường Pháp. Nhân dân Pháp và nhiều giới chính trị Pháp đánh giá cao những đề nghị của ta, coi đó là cơ sở hợp tình, hợp lý để giải quyết hòa bình vấn đề Việt Nam. Trái lại Chính phủ La-ni-en – Bi-đôn (Laniel – Bidault) đại biểu cho những thế lực hiếu chiến cực hữu và than Mỹ vẫn rất ngoan cố, đã làm cho hội nghị bế tắc.

Hội nghị Genève kéo dài hơn một tháng mà vẫn dậm chân tại chỗ. Nguyên nhân chủ yếu và duy nhất là do chính quyền La-ni-en – Bi-đôn, được sự ủng hộ của Mỹ chủ trương kéo dài và mở rộng chiến tranh. Tình hình chính trị tại Pháp rất sôi động, các lực lượng chủ chiến và lực lượng hòa bình chống nhau quyết liệt. Phong trào phản chiến phát triển mạnh mẽ, kể cả trong quân đội Pháp, gần như nổi loạn, họ đã không ngần ngại giơ chân đá đít Bộ trưởng Quốc phòng Pháp là Rơ-nê Ple-ven (René Pliven) ngay tại trước đài trận vong chiến sĩ, khi được tin quân Pháp bị hạ gục ở Điện Biên Phủ. Quốc hội Pháp được triệu tập vào giữa tháng 6/1954 để bàn về việc lập lại hòa bình ở Đông Dương, một vấn đề làm nhức nhối nước Pháp.

La-ni-en – Bi-đôn rất lo sợ Quốc hội đánh đổ, họ tìm mọi cách duy trì cái ghế của họ. Họ cố làm như có tiến triển ở Hội nghị Genève. Nhưng từ khi khai mạc hội nghị đến hết cả tuần đầu tháng 6, Bi-đôn không gặp trưởng đoàn ta lần nào, thế rồi ngày 11/6/1954, Bi-đôn chủ động tìm gặp đồng chí Phạm Văn Đồng giơ tay bắt tay đồng chí ấy trước ống kính của phóng viên nhiếp ảnh đã được đoàn Pháp bố trí sẵn. Bằng thủ đoạn này Bi-đôn hòng chứng minh có tiến bộ trong đàm phán với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Thấy rõ ý đồ xảo quyệt đó của đối phương, ngay trong ngày 11/6/1954, đoàn ta đã họp báo nêu rõ Hội nghị Genève tuy đã họp được hơn một tháng mà vẫn không tiến triển được một mi-li-mét nào, vì thái độ ngoan cố, cản trở của Chính phủ La-ni-en – Bi-đôn gây ra. Cuộc họp báo của ta có tiếng vang mạnh mẽ với Quốc hội Pháp. Sau đó vài ngày Quốc hội Pháp họp lại và biểu quyết không tín nhiệm Chính phủ La-ni-en – Bi-đôn. Quốc hội Pháp đã bầu ông P.Men-đét Phrăng- xơ (P.Mendes France) làm Thủ tướng. Ông này là phần tử chủ hòa.

Thắng lợi vĩ đại ở Điện Biên Phủ, cộng với lập trường 8 điểm đúng đắn của ta. Hiệp định Genève được ký kết là một mốc son lịch sử, mở ra bước ngoặt mới đối với cách mạng Việt Nam. (Do có trục trặc, là bản dịch tiếng Việt không khớp với bản dịch tiếng Pháp nên phải sửa chữa lại, đến 2 giờ 45 phú sáng ngày 21/7 Hiệp định đình chỉ chiến tranh Việt Nam mới được ký kết). Nhưng hiệp định vẫn ghi ngày 20/7/1954.

LÊ VĂN HIẾU

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.