VNCH “giữ đảo”, Cộng hòa XHCN Việt Nam “bán đảo”?

VNCH giữ đảo

Năm 1956, Hải quân Trung Quốc chiếm nhóm đảo phía Đông quần đảo Hoàng Sa (nhóm An Vĩnh) trong đó có đảo Phú Lâm (Woody Island) và đảo Linh Côn. Phía Việt Nam Cộng hòa không có hành động đáp trả quân sự.

1956: Để Đài Loan chiếm đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa

Cũng trong năm 1956, Đài Loan điều tàu đến đảo Ba Bình (đây là đảo nổi lớn nhất quần đảo Trường Sa) khi đó thuộc quyền quản lý của Việt Nam Cộng hòa. Chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã không có hành động gì để phản đối. Nhân dịp lễ Song Thập 10/10 của Trung Hoa Dân Quốc (tức Đài Loan), Tổng thống Ngô Đình Diệm đã ra lệnh cho quân rút khỏi đảo Ba Bình, Đài Loan giành quyền kiểm soát hòn đảo mà không cần phải nổ súng.

Từ 1956 – 1960: Tặng cho Campuchia 5 đảo phía Tây Nam gồm : Hòn Năng ( trong và ngoài ), Hòn Tai, Hòn Kiến Vàng, Hòn Keo Ngựa và đảo Hòn Trọc ( hay còn được gọi là đảo wai hat Poulo wai).

Năm 1970, Philippines đã tổ chức chiếm giữ đảo Song Tử Đông, đảo Thị Tứ, đảo Loại Ta và 4 đảo nữa. Lính Việt Nam Cộng hòa ở đảo Song Tử Tây để yên để cho quân Philippines hành động. Sau chiến dịch, Philippines chiếm được 6 đảo nổi và bãi đã mà không cần phải nổ súng, trong đó Thị Tứ là đảo lớn thứ nhì, Bến Lạc (Đảo Dừa) là đảo lớn thứ ba, Song Tử Đông là đảo lớn thứ năm ở quần đảo Trường Sa. Sau vụ chiếm đóng, chính phủ Việt Nam Cộng hòa cũng không hề lên tiếng gì về vụ chiếm đóng đó.

Ngày 3/2/1971, Đại sứ Malaysia tại Sài Gòn gửi một công hàm cho Chính quyền Sài Gòn nói một cách dè dặt rằng họ có chủ quyền đối với vùng phía Nam quần đảo Trường Sa mà họ gọi là nước Cộng hòa Morac Songhrati Meads nằm trong Liên bang Malaysia. Ngày 20/4/1971, Chính quyền Sài Gòn gửi công hàm bác bỏ quan điểm đó, khẳng định quần đảo Trường Sa hoàn toàn thuộc chủ quyền của Việt Nam thì Malaysia im lặng không tỏ thái độ gì. Tuy nhiên, việc Malaysia chiếm giữ 1 đảo và 6 đá gồm: Bãi Thám Hiểm, Đá Kỳ Lân, Đá Én Ca, Đá Kiêu Ngựa, Đá Sác Lốt, Đá Hoa Lau…và tuyên bố chủ quyền với một số đảo khác phía Đông thì phía VNCH không đáp trả bằng quân sự.

Năm 1974, Hải quân Trung Quốc đổ bộ lên một số đảo phía Tây quần đảo Hoàng Sa. Đề đốc Lâm Ngươn Tánh ban hành Lệnh hành quân Hoàng Sa 1 nhằm chiếm lại một cách hòa bình các đảo Hữu Nhật, Quang Hòa, Duy Mộng, Quang Ảnh. Việc đổ bộ thất bại, phó đô đốc Hải quân Việt Nam Cộng hòa Hồ Văn Kỳ Thoại theo chỉ thị của tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ra khẩu lệnh vắn tắt “khai hỏa”.

Các tầu hải quân VNCH đồng loạt khai hoả bắn cháy và làm hư hại tầu của Trung Quốc nhưng cũng bị bắn bị thương, trong đó có cả đạn pháo tầu VNCH bắn vào nhau. Sau chừng 15 phút giao chiến, các tầu VNCH bỏ chạy về 2 hướng: Subic và cảng Đà Nẵng, bỏ lại tầu HQ-10 bốc cháy tại chỗ (sau này bị tầu Trung Quốc tiếp ứng bắn chìm). VNCH cầu cứu Quân đội Mỹ và Hạm đội 7 tại Thái Bình Dương nhưng họ từ chối cứu giúp. Từ đó, VNCH không bao giờ trở lại Hoàng Sa nữa.

Như vậy, VNCH làm mất toàn bộ Hoàng Sa và phần lớn Trường Sa mà chỉ chống cự lại bằng một trận hải chiến “êng hùng” trong 15 phút rồi tháo chạy, bỏ mặc đảo, bỏ mặc tầu và đồng đội bị tử thương nơi chiến trường. Đến trước ngày 30/4/1975, VNCH chỉ còn đóng quân trên 5 đảo nổi tại Trường Sa.

Đảo Trường Sa Lớn

Cộng hòa XHCN Việt Nam “bán đảo”:

Năm 1975, trong Chiến dịch Trường Sa và các đảo trên Biển Đông, Hải quân Nhân dân Việt Nam nhanh chóng giành quyền kiểm soát tất cả các đảo mà quân Việt Nam Cộng hòa đang giữ. Tuy nhiên, một số đảo ở phía tây đã rơi vào tay Đài Loan, Philippines và Malaysia từ trước như đã nêu ở trên.

Tháng 9/1975, Bộ Quốc phòng Việt Nam đã điều động trung đoàn bộ binh 46 (sư đoàn 325) chuyển thuộc Quân chủng Hải quân, điều trung đoàn hải quân đánh bộ 126 đến vùng đảo và thành lập lữ đoàn hải quân đánh bộ 126 gồm hai trung đoàn (sau này được bổ sung thêm trung đoàn 83 – Quân khu 5) để phòng thủ quần đảo quan trọng này. Việt Nam đóng giữ 5 đảo nổi: Song Tử Tây, Sơn Ca, Nam Yết, Sinh Tồn, Trường Sa.

Năm 1978, Việt Nam đóng giữ thêm 4 đảo nổi: An Bang (10/3/1978), Sinh Tồn Đông (15/3/1978), Phan Vinh (30/3/1978), Trường Sa Đông (4/4/1978)

Năm 1987 – 1988, Việt Nam tiếp tục đóng giữ đảo chìm Thuyền Chài (5/3/1987), Đá Tây (2/12/1987), Tiên Nữ (25/1/1988), Đá Lát (5/2/1988), Đá Đông (19/2/1988), Đá Lớn (20/2/1988), Tốc Tan (27/2/1988), Núi Le (28/2/1988).

Ngày 14/3/1988 diễn ra trận hải chiến Trường Sa. Hải quân Trung Quốc với lực lượng và vũ khí vượt trội đã ngang ngược đổ bộ lên Cô Lin, Len Đao và Gạc Ma nhưng bị các chiến sỹ công binh và hải quân Việt Nam đã đổ bộ trước đó ngăn chặn nên buộc phải trở về tầu. Tầu Trung Quốc bắc loa yêu cầu bộ đội Việt Nam phải rời khỏi Gạc Ma nhưng bộ đội Việt Nam dù không có vũ khí chống trả vẫn kết thành một vòng tròn để giữ đảo.

Tầu Trung Quốc nã trọng liên và pháo vào Gạc Ma sát hại các chiến sỹ của Việt Nam. Đồng thời dùng các loại pháo hạng nặng bắn chìm tầu hải quân của Việt Nam ở gần đó. Tại Cô Lin và Len Đao, chiến sự xảy ra và tầu đổ bộ của Việt Nam, dù bị thương vẫn kịp thời ủi bãi tạo thành công sự để chiến đấu giữ được Cô Lin. Tại Len Đao, tầu của Việt Nam cũng bị Trung Quốc bắn cháy. Các chiến sỹ còn sống đã đưa các liệt sỹ và thương binh lên xuồng bơi về đảo Sinh Tồn. Một tháng sau, Việt Nam cử một đoàn đặc biệt ra chiếm lại Gạc Ma và Len Đao.

Hải quân Việt Nam đổ bộ thành công lên Len Đao nhưng tại Gạc Ma Trung Quốc đã xây xong công trình nhân tạo và giăng lưới điện quanh đảo nên không tiếp cận được. Như vậy, Việt Nam đóng giữ thêm đá Len Đao và đá Cô Lin. Ngày 15/3/1988, đóng giữ đảo chìm Đá Thị, ngày 16/3 đóng giữ đảo Đá Nam. Tổng cộng trong năm 1988, Việt Nam đóng giữ thêm 11 đảo chìm. Tháng 11/1988, Hải quân Việt Nam bắt đầu đóng giữ, bảo vệ khu vực mỏ dầu DK1 ở thềm lục địa phía Nam. Đến cuối thập niên 1980, Việt Nam đã kiểm soát 21 đảo, cồn và rạn san hô.

Từ 1990 đến 2008, Việt Nam kiểm soát thêm 10 điểm, từ 2008 đến 2014 thì kiểm soát thêm 18 điểm tại quần đảo Trường Sa. Theo báo cáo của chính phủ Mỹ, đến năm 2015, Việt Nam đã mở rộng khu vực kiểm soát lên 48 đảo, cồn và rạn san hô. Nhóm đảo này được gộp vào thành một huyện Trường Sa thuộc tỉnh Khánh Hòa.

Tổng kết lại, từ khi tiếp quản Trường Sa, CHXHCN Việt Nam đã nâng số điểm chiếm đóng từ 5 điểm từ tay VNCH lên 48 điểm tại các đảo, đá và rặng san hô, chưa kể các nhà giàn, gấp 10 lần so với VNCH trước đây. CHXHCN Việt Nam chỉ để mất duy nhất một bãi đá Gạc Ma sau một trận chiến rất không cân sức và nỗ lực tái chiếm bất thành. Nhưng trong trận đó, Việt Nam vẫn chiếm giữ được 2 điểm so với 1 điểm mà Trung Quốc chiếm giữ trái phép.

“Bán nước, bán đảo” kiểu Cộng hòa XHCN Việt Nam vẫn tốt hơn là “anh dũng giữ đảo” kiểu VNCH nhỉ?