Sức mạnh của đồng Dollars đã được Mỹ xây dựng như nào?

Một loại tiền tệ toàn cầu là loại tiền được chấp nhận cho thương mại trên toàn thế giới. Một số loại tiền tệ trên thế giới được chấp nhận cho hầu hết các giao dịch quốc tế. Phổ biến nhất là đồng đô la Mỹ, đồng euro và đồng yên. Một tên khác cho loại tiền tệ toàn cầu là tiền tệ dự trữ.

Trong số này, đồng đô la Mỹ (Dollar) là phổ biến nhất. Nó chiếm 64% tổng dự trữ ngoại hối của các ngân hàng trung ương. Điều đó làm cho nó trở thành tiền tệ toàn cầu, mặc dù nó không giữ một danh hiệu toàn cầu chính thức, nhưng được định hình bằng… Giá trị bảo chứng của nó. USD là một đồng tiền mạnh bởi vì nó gắn với giá trị bảo chứng. Có thể nói, giá trị của đồng đô la Mỹ chính là một phần khiến Mỹ trở thành cường quốc kinh tế số 1 thế giới. Từ năm 1944 đến 1971, mặc dù Mỹ chỉ chiếm khoảng 20% sản lượng kinh tế của thế giới, nhưng hơn một nửa tổng lượng dự trữ ngoại tệ và thương mại toàn cầu đều được quy về đồng bạc xanh (USD).

Đây là kết quả của hiệp ước Bretton Woods năm 1944, theo đó tất cả các quốc gia cố định giá trị đồng tiền của mình với đồng USD gắn với vàng, bởi vào thời điểm đó, Hoa Kỳ nắm giữ trữ lượng vàng lớn nhất nên thỏa thuận này cho phép các nước khác mua lại tiền của họ bằng đô la, chứ không phải vàng. Tuy nhiên, “cú sốc Nixon” năm 1971 thay vì cho phép Fort Knox bị cạn kiệt tất cả các khoản dự trữ của nó, Tổng thống Nixon tách đồng đô la khỏi vàng. Vào thời điểm đó, đồng đô la đã trở thành đồng tiền dự trữ chi phối của thế giới. Để biết thêm, hãy tham khảo “stagflation”… và Mỹ đã rút ra khỏi hệ thống tiền tệ Bretton Woods, thả nổi đồng USD dao động với các đồng tiền khác. Quyết định này sau đó đã giúp Mỹ kiểm soát việc cung cấp tiền tệ bằng cách đồng USD được định giá bởi dầu mỏ (Petrodollar).

Nói thêm thì, Dưới thời Johnson cầm quyền, cuộc chiến ở Việt Nam đã khiến nợ quốc gia của Mỹ là 354 tỷ USD. Đến thời Nixon cuộc chiến chưa kết thúc đã khiến chính phủ Mỹ mắc nợ thêm 121 tỷ đưa tổng số nợ lên 475 tỷ USD, một con số kỷ lục khổng lồ, từ đó dẫn tới lạm phát. Rất nhiều quốc gia lo sợ và họ mang USD dự trữ để đổi lấy vàng từ Mỹ, dự trữ vàng của Mỹ ở mức thấp nhất mọi thời đại và có nguy cơ suy kiệt.

Ngày 15/8/1971, Tổng thống Mỹ Nixon tuyên bố đóng cửa sổ vàng. Theo đó, đồng đô la Mỹ chính thức từ bỏ tiêu chuẩn vàng. Thỏa thuận Bretton Woods tan vỡ… Giới tinh hoa của Hoa Kỳ đã nhìn thấu điều này. Họ đã nhắm tới Arabia Saudi, quốc gia có trữ lượng và số lượng khai thác dầu mỏ lớn bậc nhất thế giới, Vậy là thỏa thuận Mỹ-Arabia Saudi ra đời. Theo đó:

“Mỹ cũng đồng ý cung cấp vũ khí cho Saudi, và đảm bảo bảo vệ ngai vàng hoàng tộc nhà Saudi khỏi bị Israel lật đổ, vốn dĩ ở thời điểm đó Israel được coi như một quốc gia “ông Kẹ” chuyên bắt nạt tất cả các nước xung quanh trong cuộc chiến Trung Đông.

Đổi lại, Arabia Saudi phải đáp ứng 2 điều khoản. Nhà nước Saudi phải từ chối tất cả các loại tiền tệ khác để thanh toán cho việc mua dầu mỏ ngoại trừ đồng đô la Mỹ. Arabia Saudi sẽ mở cửa cho đầu tư tiền dư thừa thu được từ bán dầu của họ vào chứng khoán nợ của Hoa Kỳ. Sau Arabia Saudi, lần lượt là toàn bộ các nước Ả Rập tại Trung Đông. Năm 1975, toàn bộ OPEC, cũng đều thực hiện 2 điều khoản này để đổi lấy cam kết của Mỹ. Vậy là, Dầu mỏ, thị trường nguyên liệu lớn nhất, được thanh toán hoàn toàn bằng đôla Mỹ. Nếu bạn muốn mua một thùng dầu mỏ, bạn phải đổi tiền tệ của bạn lấy đôla Mỹ (còn được biết đến với cái tên PetroDollar – đôla dầu mỏ) và dùng nó để trả cho nhà cung cấp dầu.

Với nhu cầu công nghiệp, quốc gia nào cũng cần dầu, mua dầu, vậy làm sao có đô la Mỹ để mua? Vậy là họ phải xuất khẩu giá rẻ sang Mỹ, người tiêu dùng Mỹ được hưởng lợi lớn từ các quốc gia trên thế giới. Chẳng hạn, Nhật Bản có rất ít tài nguyên thiên nhiên nên phải nhập khẩu một số lượng lớn hàng hóa, bao gồm dầu mỏ. Muốn có nhiều đô la Mỹ để mua dầu thì tất cả các hàng hóa phải ưu tiên xuất sang Mỹ để thanh toán đổi lấy tiền đô la.

Với vị thế Petrodollar đã giúp sức mạnh tương đối của nền kinh tế Mỹ tang lên rất nhiều. Đó là lý do đồng đô la là đồng tiền mạnh nhất. Khoảng 580 tỷ đô la được in bởi Hoa Kỳ được sử dụng bên ngoài quốc gia. Đó là 65% tổng lượng đô la. Chúng bao gồm 75% lượng 100 đô la, 55% lượng 50 đô la và 60% lượng 20 đô la. Hầu hết lượng tiền này đều nằm các nước Liên Xô cũ và ở Mỹ Latinh sau giai đoạn 1990s. Hơn nữa, 39% nợ của thế giới được phát hành bằng đô la.

Kết quả là, các ngân hàng nước ngoài đòi hỏi rất nhiều đô la để tiến hành kinh doanh. Ví dụ, trong cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008, các ngân hàng ngoài Hoa Kỳ có 27 nghìn tỷ đô la trong các khoản nợ quốc tế bằng ngoại tệ. Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ (FED) đã tăng đường hoán đổi đô la của mình để giữ cho các ngân hàng trên thế giới không bị cạn kiệt lượng dự trữ đô la. Với vai trò then chốt của đồng USD cho phép Mỹ dễ dàng hỗ trợ tài chính trong tình trạng thâm hụt thương mại và ngân sách quốc gia. Bên cạnh đó, Mỹ còn được bảo vệ khỏi khủng hoảng cán cân thanh toán, bởi vì nước này nhập khẩu và làm dịch vụ bằng cách vay chính đồng nội tệ của mình. Chính sách tiền tệ của Mỹ, chẳng hạn như nới lỏng định lượng, có thể gây ảnh hưởng đến giá trị của đồng USD nhằm giúp Mỹ đạt được lợi thế cạnh tranh.

Cuộc khủng hoảng tài chính khiến đồng đôla thậm chí còn được sử dụng rộng rãi hơn. Trong năm 2017, các ngân hàng của Nhật Bản, Đức, Pháp và Vương quốc Anh đã nắm giữ nhiều khoản nợ bằng đô la so với tiền tệ của chính họ. Các quy định của ngân hàng được ban hành để ngăn chặn một cuộc khủng hoảng khác đang làm cho đô la khan hiếm. Để làm cho vấn đề tồi tệ hơn, Cục Dự trữ Liên bang (FED) ra quyết định tăng lãi suất cho vay. Điều đó làm giảm lượng cung tiền bằng cách làm cho đô la đắt tiền hơn để cho vay.

Để bảo vệ cho sức mạnh của Dollar (USD), Mỹ đã tạo ra một loạt các đạo luật mà nghe thì tưởng chừng như không liên can gì đến tiền tệ nhưng lại ẩn sâu tạo thành sức mạnh thực sự của đồng tiền quyền lực thong qua mối quan hệ của nó với các chương trình TRỪNG PHẠT, bao gồm: “Đạo luật Quyền hạn Kinh tế Khẩn cấp Quốc tế (International Emergency Economic Powers Act), Đạo luật Yêu nước (Patriot Act) và Đạo luật Thương mại với kẻ thù (Trading With the Enemy Act)” đã cho phép Washington vũ khí hóa các luồng thanh toán. Ngoài ra, khi kết hợp với quyền tiếp cận dữ liệu có được từ Swift, hệ thống nhắn tin toàn cầu của Hiệp hội Viễn thông Tài chính Liên ngân hàng Toàn cầu, Mỹ còn cho thấy khả năng kiểm soát chưa từng có đối với mọi hoạt động kinh tế trên thế giới. Dollar thong qua PetroDollar đã trở thành đồng tiền thong dụng nhất thế giới, trao cho Mỹ có quyền xử phạt nhắm vào cá nhân, thực thể, tổ chức, chế độ hoặc toàn bộ quốc gia và đưa ra lệnh trừng phạt thứ cấp các tập đoàn, tổ chức tài chính và cá nhân nước ngoài giao dịch với những đối tượng bị trừng phạt.

Bất kỳ hoạt động thanh toán nào bằng đồng USD đi qua ngân hàng hoặc hệ thống thanh toán của Mỹ đều cung cấp thông tin liên hệ cần thiết để nước này truy tố người phạm tội hoặc hành vi gây tổn hại đến tài sản của người Mỹ. Điều đó mang lại cho Mỹ khả năng tiếp cận ngoại vi đối với cả những giao dịch không phải của công dân Mỹ với bên bị xử phạt. Một khi đã bị Mỹ truy tố, đối tượng có thể sẽ phải đối mặt với tình trạng mất ổn định tài chính, thương mại, tiền tệ và hiệu quả kinh doanh bị phá vỡ.

Nguy cơ đó là có thật. Theo Bloomberg, BNP Paribas, một trong những ngân hàng lớn nhất thế giới có trụ sở tại Pháp, đã phải trả 9 tỉ USD tiền phạt và bị đình chỉ thanh toán bù trừ bằng đồng USD trong một năm vì vi phạm lệnh trừng phạt của Mỹ đối với Iran, Cuba và Sudan. Hàng loạt ngân hàng và hãng tài chính lớn khác, bao gồm HSBC, Standard Chartered, Commerzbank AG và Clearstream Banking SA cũng đã phải trả tiền phạt cho những vi phạm tương tự. Biện pháp trừng phạt thứ cấp đã khiến United Co. Rusal gặp khó khăn trong việc tái cấp vốn thông qua những khoản vay bằng đồng USD khi các doanh nghiệp, ngân hàng và sàn giao dịch toàn cầu buộc phải ngừng giao thương với hãng nhôm lớn thứ hai thế giới về sản lượng có trụ sở tại Nga. Trái phiếu và cổ phiếu của Rusal giảm mạnh, cho dù công ty chỉ bán khoảng 14% sản phẩm ở Mỹ, không sử dụng các ngân hàng Mỹ và được niêm yết tại Moscow, Hồng Kông.

Tuy nhiên, cuộc tấn công kinh tế do Mỹ khởi xướng đang mang tới một số điểm lùi. Ví dụ, EU bắt đầu chuyển sang định giá dầu nhập khẩu bằng đồng euro, để tạo điều kiện cho việc tiếp tục mua hàng từ Nga. Với Iran, một loại hình thanh toán đặc biệt đã được thiết lập để các nhà nhập khẩu và xuất khẩu EU khớp các giao dịch quy đổi bằng giá trị tương ứng với phía Iran.

Báo cáo kết luận nếu Chính phủ Mỹ mà cụ thể là Bộ Tài chính Mỹ hôm 02/11/19 cho biết, nợ công của chính phủ nước này đã phá vỡ kỷ lục, vượt quá 23.000 tỷ USD. Các khoản chi tiêu chủ yếu là cho chiến tranh, đã khiến đôi ba lần chính phủ đứng trước nguy cơ đóng cửa nhưng chỉ cần một vài “thao tác” của FED là chính phủ Mỹ hoạt động trở lại như đã thấy. Việc lạm dụng vai trò của đồng USD như một công cụ ép buộc kinh tế quốc tế, thì hệ quả là siêu cường quốc này đã gián tiếp thúc đẩy hơn nữa sự phát triển của các cơ chế thanh toán thay thế, không dựa trên đồng USD. Và điều này rõ ràng là đang được các quốc gia, các khu vực thực hiện với mục tiêu “Hạn chế sức mạnh của đồng Dollar”.
Cụ thể,…

Có một điều mà ít ai chú ý thì, nếu đồng USD suy yếu so với đồng tiền Nhân dân tệ, EU, Rúp thì điều này sẽ giúp Mỹ cắt giảm thâm hụt thương mại hiệu quả hơn các biện pháp thuế quan, nhưng đây là việc khó xảy ra trong thực tế. Nói rõ hơn thì, đồng tiền yếu hơn khiến hàng xuất khẩu của một quốc gia rẻ hơn cho người mua nước ngoài, tạo lợi thế cạnh tranh cho quốc gia đó. Trong nhiều năm, việc can thiệp để đồng Nhân dân tệ (CNY) yếu đã tạo nền móng cho sự tăng trưởng của Trung Quốc như một cơ sở sản xuất cho phần còn lại của thế giới.

Vào tháng 3 năm 2009, Trung Quốc và Nga đã kêu gọi chọn ra một loại tiền tệ toàn cầu mới. Họ muốn thế giới tạo ra một đồng tiền dự trữ “không gắn kết với một quốc gia riêng lẻ nào và có thể duy trì ổn định trong thời gian dài, từ đó loại bỏ sự thiếu hụt vốn có do sử dụng tiền tệ quốc gia dựa trên tín dụng”. Trung Quốc lo ngại rằng hàng tỷ tỷ đô la Mỹ nắm giữ bằng đô la sẽ có mất giá hơn nếu xảy ra lạm phát đồng đô la. Điều này có thể xảy ra do việc chi tiêu thâm hụt và quá trình in ấn của Hoa Kỳ tăng lên để hỗ trợ giải quyết nợ của Mỹ. Trung Quốc kêu gọi Quỹ tiền tệ quốc tế phát triển một loại tiền tệ để thay thế đồng đô la. Trong quý IV năm 2016, đồng nhân dân tệ Trung Quốc đã trở thành một trong những đồng tiền dự trữ của thế giới. Tính đến quý 3 năm 2017, các ngân hàng trung ương trên thế giới đã nắm giữ một khoản đáng giá 108 tỷ USD. Đó là một khởi đầu nhỏ, nhưng nó sẽ tiếp tục phát triển trong tương lai. Đó là bởi vì Trung Quốc muốn đồng tiền của mình được giao dịch đầy đủ trên thị trường ngoại hối toàn cầu. Trung Quốc muốn nhân dân tệ thay thế đồng đô la như một loại tiền tệ toàn cầu. Và để làm như vậy, Trung Quốc đang thực hiện các cải cách nền kinh tế của riêng mình.

Việc này chính là nguyên do chính khiến cho Tổng thống Trump tiến hành cuộc Chiến tranh thương mại với Trung Quốc bằng cách đánh thuế đối với hàng nhập khẩu do Trung Quốc sản xuất, có nghĩa là các sản phẩm đó sẽ tăng giá khi chúng đặt chân đến Mỹ, không khuyến khích người Mỹ mua chúng. Thế nhưng, một cách để Trung Quốc đáp trả là làm suy yếu đồng nhân dân tệ, cũng tức là làm suy yếu tác động của các biện pháp thuế quan đó bằng cách làm cho sản phẩm của họ rẻ hơn.

Về lý thuyết, Mỹ có thể làm suy yếu đồng tiền của mình, nhưng trong thực tế thì không dễ, một phần là vì các thị trường tiền tệ quá lớn. Bởi mỗi ngày, hơn 5.000 tỷ USD được giao dịch trong các thị trường đó và hơn 4.000 tỷ USD trong số các giao dịch đó liên quan đến đồng USD. Hiện tại, Mỹ không hoạt động theo cách đó.

Còn Trung Quốc kiểm soát đồng nhân dân tệ vì họ có thể sử dụng sức mua không đáy của ngân hàng trung ương, nơi công bố giá chính thức cho loại tiền này mỗi ngày và cho phép một lượng giao dịch nhất định được thực hiện xung quanh mức giá đó. Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc có khả năng in tiền nhân dân tệ để làm suy yếu đồng tiền nếu tỷ giá quá cao. Mặt khác, Bắc Kinh có 3.000 tỷ USD dự trữ mà họ có thể tung ra để giữ cho đồng tiền không bị quá yếu.

Trong quá khứ, khi các chính trị gia Mỹ muốn thay đổi giá trị của đồng USD, họ phải phối hợp các nỗ lực liên quan đến một số quốc gia. Đó là những gì đã xảy ra vào năm 1985, khi Mỹ thiết kế thỏa thuận làm suy yếu đồng USD như một phần của Hiệp định Plaza.

Tính đến nay Đức, Pháp và Anh đã từng bước thực hiện kế hoạch ngầm giúp các doanh nghiệp châu Âu “né đòn” bằng cách sử dụng đồng tiền chung châu Âu trong giao dịch với Tehran. Nếu thành công, các công ty châu Âu có thể sẽ thực hiện giao dịch thông qua đồng euro thay vì đồng USD, qua đó giải phóng họ khỏi sự lệ thuộc vào các quy định hay ngân hàng Mỹ. Và như vậy rõ ràng sẽ khó để Washington có thể theo dõi hoạt động giao dịch giữa Iran với các công ty nước ngoài và áp đặt các hình phạt.

Nếu Iran “ngấm ngầm” nhận thanh toán các hóa đơn xuất khẩu dầu bằng euro chứ không phải là USD, quốc gia này sẽ sử dụng chính những đồng euro đó để chi trả cho hàng hóa nhập khẩu. Một khi nguồn lợi nhuận của các công ty hay doanh nghiệp bằng đồng euro thay cho USD, thì các ngân hàng trung ương sẽ có ít lý do để nắm giữ nhiều đồng USD nhằm can thiệp vào thị trường ngoại hối và ổn định đồng nội tệ so với đồng USD. Như vậy, đồng USD sẽ không thể duy trì vị thế như trước… điều đó cũng dần đẩy PetroDollar lung lay.

Thổ Nhĩ Kỳ cũng đã chuyển sang thanh toán các hóa đơn kinh tế với Iran bằng đồng nội tệ của nước này. Hiện nay, Bộ Năng lượng Nga đã cho biết Moscow đang xem xét khả năng cho phép các nước thanh toán hóa đơn dầu mỏ bằng đồng tiền của quốc gia thực hiện giao dịch, nhất là Thổ Nhĩ Kỳ và Iran, khi bỏ qua việc dùng đồng USD của Mỹ trong thanh toán.

Trước đó năm 2018, Trung Quốc đã tiến hành mở hợp đồng giao dịch dầu kỳ hạn bằng đồng nhân dân tệ (NDT), đồng tiền quan trọng thứ ba trong giỏ các đồng tiền quốc tế của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF). Đáng chú ý, công ty hạt nhân quốc gia Nga Rosatom và Công ty điện hạt nhân quốc gia Trung Quốc (CNNP) đã ký một hợp đồng chung về việc xây dựng các cơ sở thứ 3 và thứ 4 tại nhà máy hạt nhân Xudapu ở đông bắc Trung Quốc trong năm 2019. Hợp đồng được tiết lộ trị giá 1,7 tỉ USD và quá trình xây dựng dự kiến bắt đầu lần lượt vào tháng 10/2021 và tháng 8/2022.

Sau các cuộc gặp cấp cao, Quỹ đầu tư trực tiếp Nga (RDIF), tập đoàn Alibaba của Trung Quốc và tập đoàn Mail.Ru của Nga cũng nhất trí đầu tư tổng cộng 382 triệu USD vào một liên doanh thương mại điện tử. Trong đó, Alibaba đóng góp khoảng 100 triệu USD và phần còn lại do phía Nga chịu trách nhiệm. RDIF cũng ký thỏa thuận với Tổng công ty đầu tư Trung Quốc (CIC) để tạo ra một quỹ đổi mới khoa học chung và đầu tư 1 tỉ USD vào quỹ này.

Và điều quan trọng nhất mà cần nhắc lại là việc Tổng thống Nga Putin vừa được Duma quốc gia Nga nhất trí cho phép tái tranh cử sau khi kết thúc nhiệm kỳ, cũng như việc Putin nói KHÔNG với thỏa thuận mới của OPEC khiến giá dầu tuốt xuống 31 USD/ thùng. Để hiểu hơn thì hững năm gần đây, Tổng thống Nga Vladimir Putin đã âm thầm thực hiện kế hoạch thoát khỏi đồng dollar Mỹ. Và theo các nhà phân tích, mặc dù đồng ruble Nga đang mất giá do ảnh hưởng cấm vận của Mỹ và EU, nhưng có vẻ như kế hoạch thoát USD đang được triển khai khá thuận lợi.

Mong muốn của Nga là thoát khỏi sự phụ thuộc vào đồng USD và hệ thống thanh toán bằng đồng USD. Và Vàng đang được sử dụng để giúp Nga thoát khỏi ảnh hưởng của Mỹ và nó đang có hiệu quả. Giải pháp phòng ngừa hữu hiệu nhất chính là mua vàng, điều này giúp Nga không bị cản trở trong hệ thống thanh toán quốc tế hoặc bị tấn công. Theo báo cáo của Hội đồng Vàng thế giới, Ngân hàng Trung ương Nga đã tăng gấp đôi tốc độ mua vàng của mình, đưa lượng dự trữ vàng lên tới mức cao nhất kể từ khi ông Putin nắm quyền cách đây 19 năm. Nga đã tăng gấp ba lượng dự trữ vàng, từ 600 tấn lên đến hơn 1.800 tấn trong hơn 10 năm qua và không có dấu hiệu cho thấy tốc độ bị giảm. Ngay cả khi giá dầu và lượng dầu dự trữ của Nga giảm sút khá nhiều vào năm 2015, Nga vẫn tiếp tục mua vàng.

Nước Nga cho rằng, với vàng, họ luôn có thể trả tiền cho một quốc gia khác bằng cách chuyển vàng trên máy bay và gửi nó cho đối tác. Tuy đây là thế kỷ 21 nhưng cách này tương đương với cách làm của ngân hàng J.P.Morgan vào đầu thế kỷ 20, khi họ thanh toán bằng vàng thông qua tàu thủy, đường sắt. Bên cạnh vàng, Nga cũng đang sử dụng các giải pháp khác để thay thế hệ thống thanh toán bằng đồng USD, đặc biệt là xây dựng hệ thống mới thay thế Hiệp hội Liên thông tiền tệ liên ngân hàng thế giới (SWIFT). Mỹ sử dụng sức ảnh hưởng của mình tại SWIFT, hệ thống trung tâm lưu trữ thông tin chuyển tiền toàn cầu, để ngăn chặn các quốc gia họ cho là mối đe dọa của họ trong tương lai, và Mỹ đã dùng mọi cách kể cả là SWIFT, OPEC (PetroDollar) để đánh nước Nga nhằm hạ hục hoàn toàn đối thủ trăm năm… có điều

Năm 2014, khủng hoảng Ukraine, Mỹ-phương Tây, bằng các nổ lực và nguồn lực của mình đã can thiệp vào giá dầu và vàng để làm tăng sức mạnh của dollars nhằm đánh sập nền kinh tế Nga. Tổng thống Nga V. Putin lập tức mở “cửa sổ vàng” bắt đầu trao đổi tự do giữa vàng và dollars mà không cần “xin phép Mỹ”. Bởi vì:

Thứ nhất, về xuất khẩu Nga không coi dollars là phương tiện thanh toán cuối cùng, không coi dollars là nguồn tích lũy chính mà thay vào đó là VÀNG. Tiền dollars thu được từ bán dầu, khí đốt…cho phương Tây đều được Nga quy ra vàng và biến thành vàng ngay và luôn.

Điều thú vị, trớ trêu ở đây là Mỹ-phương Tây mua hàng của Nga phải thanh toán bằng dollars, mà giá trị thực của dollars đã được Mỹ-phương Tây đẩy lên cao để giảm giá dầu và vàng (giả tạo), trong khi đó, Nga thì sử dụng tiền dollars thu được này để mua ngay vàng với cái giá thấp giả tạo đó. Rốt cuộc, “Nga đã đưa Mỹ-phương Tây vào vị trí của một con rắn, mạnh mẽ và siêng năng nuốt đuôi của chính mình”. Đây là lời bình mà tôi cho rằng hay nhất trong năm bởi Golbal Research thay vì như “tự ghè đá vào chân mình”, “gậy ông lại đập lưng ông”…

Chúng ta còn nhớ, vào những năm 70-80, Nhật đã mua rất nhiều tài sản ở Mỹ, kể cả trái phiếu chính phủ, vì Nhật có thặng dư mậu dịch lớn với Mỹ giống như Trung Quốc bây giờ. Thế rồi năm 1985 Mỹ đã buộc Nhật phải ký vào Plaza Accord để đồng yen lên giá hơn 50% so với đồng USD trong hai năm sau đó. Điều này tương đương với tất cả các khoản đầu tư trước đây của Nhật vào Mỹ bị mất giá hơn một nửa, cũng có nghĩa là Mỹ đã trắng trợn “quịt” 50% số nợ với Nhật.

Mỹ tuy chưa làm được điều này với Trung Quốc nhưng hơn 3000 tỷ dollars trái phiếu sẽ bị FED thao tác “bốc hơi” lúc nào là chuyện dễ như trở bàn tay. Trung Quốc thừa biết nhưng vì mục tiêu tăng trưởng nên buộc phải chấp nhận “lót tay”, chấp nhận có thể bị “quỵt nợ” ,“cố đấm ăn xôi”mà thôi.

Rõ ràng là Trung Quốc và Nhật Bản đã đem của cải, tài nguyên của mình đổi lấy những tờ dollars của Mỹ, do Mỹ in và phát hành, nhưng Nga thì không, Nga đem những thứ đó để đổi lấy vàng. Đây là những con số nói lên tất cả: Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) cho biết dự trữ vàng của Liên bang Nga trong tháng 11 năm nay đã tăng thêm 19 tấn, đạt con số 1.187,5 tấn. Đây là chỉ số dự trữ vàng cao nhất của nước này trong 20 năm qua. Nga đã nhập khẩu vàng suốt 8 tháng nay để tận dụng mức giá thấp. Trong quý 3 năm nay, khi giá vàng đã giảm 1,9%, tất cả ngân hàng trên thế giới mua vào 93 tấn thì Nga chiếm một con số kinh ngạc là 55 tấn.

Thứ hai là về thanh toán nhập khẩu. Nga tuyên bố thanh toán bằng vàng được quy đổi theo dollars. Tuyên bố này gửi đến các nước BRICS và Trung Quốc hưởng ứng nhiệt liệt. Ngoài ra, Trung Quốc còn tuyên bố “Dừng việc tăng dự trữ quốc gia bằng đồng dollars”. Điều này có nghĩa là cũng như Nga, vẫn chấp nhận lấy dollars làm phương tiện trung gian thanh toán hàng hóa, nhưng sau đó sẽ loại bỏ nó bằng một thứ khác trong cơ cấu dự trữ quốc gia.

Có thể nói quan hệ Nga-Trung được coi là thành công nhất trong vụ hạn chế, tiến tới triệt tiêu sự bá chủ của đồng dollars mà Trung Quốc ấp ủ từ lâu. Hàng hóa của Trung Quốc và năng lượng của Nga được thanh toán cuối cùng bằng vàng. Trong cuộc chơi này, trong rổ tiền tiền tệ của nhóm nước BRICS sẽ không có sự xuất hiện của đồng dollars.

Có thể kể đến việc Nga đang xây dựng hệ thống không thanh toán bằng USD với các đối tác thương mại trong khu vực và Trung Quốc. Iran và Nga vẫn duy trì thỏa thuận về việc đổi dầu lấy hàng hóa, một kế hoạch thoát khỏi hệ thống USD – dầu. Thực ra kể từ năm 2014, hai nước đã thực hiện chương trình hỗ trợ qua lại này. Do Iran bị cấm xuất khẩu dầu vì chương trình hạt nhân gây tranh cãi nên Nga mua lại dầu của Iran và trả bằng hàng hóa và kỹ thuật công nghệ của Nga. Sau đó, Nga bán dầu Iran ra thị trường thế giới. Đây là một thỏa thuận mang lại lợi ích cho cả hai phía. Iran cho biết, họ đang rất cần hàng hóa chất lượng cao cũng như kỹ thuật công nghệ hiện đại của Nga. Lúc đó, Nga mua mỗi ngày 500.000 thùng dầu của Iran và đổi lại hàng hóa theo một hợp đồng trị giá đến 20 tỷ USD.

Năm 2016, lệnh cấm vận Iran của LHQ được dỡ bỏ, nhiều ý kiến cho rằng thỏa thuận này không cần thiết nữa. Vào tháng 3-2017, kế hoạch được đặt trở lại lên bàn của Nga với nội dung cụ thể: Nga sẽ mua 100.000 thùng dầu của Iran mỗi ngày, rồi bán cho nước này hàng hóa theo hợp đồng trị giá 45 tỷ USD. Sở dĩ thỏa thuận được tiếp tục xúc tiến vì dù Iran đã được LHQ dỡ bỏ cấm vận nhưng khi nước này kết nối lại SWIFT thì vẫn bị ngăn cản thanh toán liên ngân hàng toàn cầu, chủ yếu do lệnh cấm vận của Mỹ vẫn còn tồn tại.

Nga và Trung Quốc cũng gặp nhau về ý tưởng thoát khỏi sự chi phối của đồng USD. Hiện hai nước lên kế hoạch thiết lập một trật tự tiền tệ quốc tế mới, loại trừ đồng USD. Theo kế hoạch đó, Trung Quốc mua dầu của Nga bằng đồng NDT, Nga có thể lấy đồng NDT để mua vàng trên sàn giao dịch Thượng Hải.

VEB, Ngân hàng Phát triển của Nga và một số bộ phận của nhà nước Nga đang hợp tác để phát triển hệ thống giúp giao dịch an toàn và nhanh hơn bằng cách áp dụng công nghệ blockchain. Họ đang xây dựng một sổ cái chung cho các ngân hàng gọi là Masterchain. Họ muốn tạo ra hệ thống thanh toán được mã hóa, phân phối và không tốn kém, không dựa vào các ngân hàng phương Tây, hệ thống SWIFT hoặc Mỹ để chuyển tiền.

Theo FinTech, việc chuyển giấy tờ chứng nhận thế chấp sang sổ cái được chia sẻ có thể giảm chi phí lên tới 80%. Các khoản tiết kiệm đến từ việc đẩy nhanh các quy trình kinh doanh bằng cách loại bỏ những quy trình trung gian như các công chứng viên công cộng, hay những cơ chế xét duyệt, xác minh chuyển tiền và có thể bị Mỹ chặn lại bất cứ lúc nào.

Tính đến thời điểm này, dường như Nga đã có thêm “vũ khí” nữa để chống lại đồng USD. Nhiều chuyên gia dự báo, với kế hoạch này thì đồng USD đang đứng trước nguy cơ mất vị trí vốn có. Đó là một trong những lý do các nhà đầu tư bắt đầu phân bổ một phần đầu tư của mình cho loại tài sản như vàng.
Châu Âu phải mua năng lượng của Nga bằng vàng và mua hàng hóa của Trung Quốc cũng phải bằng vàng và chắc chắn lúc đó vàng từ nguồn dự trữ của phương Tây sẽ chảy vào kho của các quốc gia BRICS, những quốc gia mà họ không dùng đồng dollars làm phương tiện thanh toán cuối cùng.

Vàng không dễ sản xuất như in ấn dollars, với sự giảm mạnh lượng dự trữ vàng hiện nay, phương Tây chỉ có thể chờ ngày dollars rời khỏi vũ đài lịch sử khi nó không còn là một phương tiện thanh toán, dự trữ cuối cùng cho các quốc gia trên thế giới. Những gì Nga và Trung Quốc đang làm cùng các nước BRICS đã thực sự thay đổi dần vị thế, vai trò của đồng dollars trong hệ thống tiền tệ toàn cầu.

Khi giá dầu giảm đến mức thấp nhất, Liên Xô lúc đó, đã bán vàng trong kho của mình. Kết quả là Liên Xô bị tan rã. Mỹ-phương Tây lên ngôi, đồng dollars đã trở thành chúa tể thế giới.

Còn bây giờ, khi giá dầu giảm đến mức thấp nhất thì Nga lại mua vàng nhập vào kho của mình. Kết quả sẽ ra sao? Đó sẽ là sự sụp đổ sự bá quyền của Petrodollar, mô hình thống trị thế giới của Mỹ-phương Tây?

Mỹ và phương Tây sẽ làm gì? Theo truyền thống, để loại bỏ mối đe dọa quyền bá chủ và lợi ích quốc gia, Mỹ-phương Tây sẽ tiến hành lật đổ chế độ Nga-Putin (cách mạng màu) hoặc tấn công bằng quân sự vào Nga, nhưng cả hai cách này xem ra đều không thể.

Mỹ-phương Tây đã nhận thức được mức độ nghiêm trọng và tuyệt vọng trong “cái bẫy vàng” tiền tệ của Putin sau khi đã quá hiểu quy tắc vàng: “Ai có nhiều vàng ra những quy định” và chưa biết làm gì để thoát ra.

Có lẽ, tất cả những gì phải nói về USD đều được ông John Connally Jr., Bộ trưởng Ngân khố Mỹ dưới thời Tổng thống Richard Nixon, gói gọn chỉ trong một lời: “Đồng USD là tiền tệ của chúng tôi, nhưng là vấn đề của bạn”.

Cho nên, các quốc gia hay khu vực lớn nào muốn đánh đổ được sức mạnh của USD, bắt buộc phải đánh đổ được giá trị cốt lõi của nó là Petrodollars! Bởi kiểm soát được đế chế Petro tức là sẽ bước được bước đầu tiên vào kiểm soát hệ thống kinh tế của thế giới, giúp cho đồng tiền dữ trữ của quốc gia đó chính thức bước lên ngai vàng thống trị.

Nguồn: tham khảo từ Le Viet, Lê Ngọc Thống và các trang phân tích trong 7 năm qua

Ảnh: chôm từ nhà anh Anh Tuan Nguyen

Bão Lửa